O slideshow foi denunciado.
Seu SlideShare está sendo baixado. ×

Luận văn: Pháp luật về bảo tồn đa dạng sinh học, HAY

Anúncio
Anúncio
Anúncio
Anúncio
Anúncio
Anúncio
Anúncio
Anúncio
Anúncio
Anúncio
Anúncio
Anúncio
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
LƢƠNG THỊ HUYỀN TRANG
PHÁP LUẬT VỀ BẢO TỒN ĐA DẠNG SINH HỌC
VÀ THỰC TIỄN ÁP DỤNG TẠI VƢỜ...
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
LƢƠNG THỊ HUYỀN TRANG
PHÁP LUẬT VỀ BẢO TỒN ĐA DẠNG SINH HỌC
VÀ THỰC TIỄN ÁP DỤNG TẠI VƢỜ...
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan Luận văn là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Các
kết quả nêu trong Luận văn chưa được cô...
Anúncio
Anúncio
Anúncio
Anúncio
Anúncio
Anúncio
Anúncio
Anúncio
Anúncio
Anúncio
Carregando em…3
×

Confira estes a seguir

1 de 108 Anúncio

Luận văn: Pháp luật về bảo tồn đa dạng sinh học, HAY

Download luận văn thạc sĩ ngành luật với đề tài: Pháp luật về bảo tồn đa dạng sinh học và thực tiễn áp dụng tại Vườn Quốc gia Pù Mát, huyện Con Cuông, tỉnh Nghệ An

Download luận văn thạc sĩ ngành luật với đề tài: Pháp luật về bảo tồn đa dạng sinh học và thực tiễn áp dụng tại Vườn Quốc gia Pù Mát, huyện Con Cuông, tỉnh Nghệ An

Anúncio
Anúncio

Mais Conteúdo rRelacionado

Diapositivos para si (20)

Semelhante a Luận văn: Pháp luật về bảo tồn đa dạng sinh học, HAY (20)

Anúncio

Mais de Dịch vụ viết bài trọn gói ZALO: 0917.193.864 (20)

Mais recentes (20)

Anúncio

Luận văn: Pháp luật về bảo tồn đa dạng sinh học, HAY

  1. 1. ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI KHOA LUẬT LƢƠNG THỊ HUYỀN TRANG PHÁP LUẬT VỀ BẢO TỒN ĐA DẠNG SINH HỌC VÀ THỰC TIỄN ÁP DỤNG TẠI VƢỜN QUỐC GIA PÙ MÁT, HUYỆN CON CUÔNG, TỈNH NGHỆ AN LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC Hà Nội – 2014
  2. 2. ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI KHOA LUẬT LƢƠNG THỊ HUYỀN TRANG PHÁP LUẬT VỀ BẢO TỒN ĐA DẠNG SINH HỌC VÀ THỰC TIỄN ÁP DỤNG TẠI VƢỜN QUỐC GIA PÙ MÁT, HUYỆN CON CUÔNG, TỈNH NGHỆ AN Chuyên ngành : Luật kinh tế Mã số : 60 38 01 07 LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC Cán bộ hướng dẫn khoa học: TS. Doãn Hồng Nhung Hà nội – 2014 [
  3. 3. LỜI CAM ĐOAN Tôi xin cam đoan Luận văn là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Các kết quả nêu trong Luận văn chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào khác. Các số liệu, ví dụ và trích dẫn trong Luận văn đảm bảo tính chính xác, tin cậy và trung thực. Tôi đã hoàn thành tất cả các môn học và đã thanh toán tất cả các nghĩa vụ tài chính theo quy định của Khoa Luật Đại học Quốc gia Hà Nội. Vậy tôi viết Lời cam đoan này đề nghị Khoa Luật xem xét để tôi có thể bảo vệ Luận văn. Tôi xin chân thành cảm ơn! NGƯỜI CAM ĐOAN Lương Thị Huyền Trang
  4. 4. MỤC LỤC LỜI CAM ĐOAN DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT………………………………………………………… 3 DANH MỤC CÁC BẢNG ……………………………………………………………3 MỞ ĐẦU ……………………………………………………………………………....1 Chƣơng 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ ĐA DẠNG SINH HỌC VÀ PHÁP LUẬT BẢO TỒN ĐA DẠNG SINH HỌC………………....................... 7 1. 1 Đa dạng sinh học và bảo tồn đa dạng sinh học …………………………............7 1.1.1 Khái niệm đa dạng sinh học ………………………………………………………….7 1.1.2 Bảo tồn đa dạng sinh học ……………………………………………………...........8 1.1.3 Ý nghĩa của đa dạng sinh học và bảo tồn đa dạng sinh học ……………………..9 1.1.4 Vai trò của khu bảo tồn thiên nhiên trong việc bảo tồn đa dạng sinh học……. .11 1 .2 Pháp luật bảo tồn đa dạng sinh học ……………………………………...........12 1.2.1 Khái niệm và ý nghĩa của pháp luật bảo tồn đa dạng sinh học …………...........12 1.2.2 Tổng quan thỏa thuận quốc tế và sự tham gia của Việt Nam trong bảo tồn đa dạng sinh học ………………………………………………………………………………….13 1.2.3 Kinh nghiệm quốc tế về pháp luật bảo tồn đa dạng sinh học và sự gợi mở đối với Việt Nam ……………………………………………………………………………………….16 Kết luận Chương 1……………………………………………………………............ 21 Chƣơng 2 THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VỀ BẢO TỒN ĐA DẠNG SINH HỌC VÀ THỰC TIỄN ÁP DỤNG TẠI VƢỜN QUỐC GIA PÙ MÁT, HUYỆN CON CUÔNG, TỈNH NGHỆ AN …………………………………………………..22 2.1 Tổng quan về đa dạng sinh học và bảo tồn đa dạng sinh học tại Việt Nam ….....22 2.2 Sơ lược lịch sử hình thành và phát triển của pháp luật bảo tồn đa dạng sinh học tại Việt Nam ………………………………………………………………....................26 2.2.1 Tổng quan pháp luật về bảo tồn đa dạng sinh học của Việt Nam trước khi ban hành Luật đa dạng sinh học năm 2008 ………………………………………....................26 2.2.2 Tổng quan pháp luật về bảo tồn đa dạng sinh học của Việt Nam sau khi ban hành Luật đa dạng sinh học năm 2008 ………………………………………...................28 2.3 Những nội dung cơ bản của pháp luật bảo tồn đa dạng sinh học ……………....31 2.3.1 Những quy định chung về nguyên tắc và trách nhiệm bảo tồn đa dạng sinh học31 2.3.2 Các quy định pháp luật về quy hoạch và quản lý các khu bảo tồn thiên nhiên ..33 2.3.3 Các quy định pháp luật về bảo tồn đa dạng hệ sinh thái ………………………….36
  5. 5. 2.3.4 Các quy định pháp luật về bảo tồn đa dạng loài ……………………………………40 2.3.5 Các quy định pháp luật về kiểm soát và bảo tồn đa dạng nguồn gen …………....47 2.3.6 Quản lý Nhà nước về đa dạng sinh học ………………………………………….…..60 2.3.7 Hợp tác quốc tế về bảo vệ đa dạng sinh học…………………………… …………..61 2.3.8 Pháp luật về xử lý vi phạm trong lĩnh vực bảo tồn đa dạng sinh học …………...62 2.4 Thực tiễn áp dụng pháp luật bảo tồn đa dạng sinh học tại Vườn quốc gia Pù Mát, huyện Con Cuông, tỉnh Nghệ An ……………………………………………………..64 2.4.1 Tổng quan đa dạng sinh học tại vườn quốc gia Pù Mát ……………………….....65 2.4.2 Thực tiễn áp dụng quy định pháp luật về bảo tồn đa dạng sinh học tại Vườn quốc gia Pù Mát, huyện Con Cuông, tỉnh Nghệ An ……………………………………………..73 2.4.3 Nguyên nhân hạn chế việc áp dụng pháp luật bảo tồn đa dạng sinh học tại Vườn quốc gia Pù Mát, huyện Con Cuông, tỉnh Nghệ An …………………………………..…..83 Kết luận Chương 2 …………………………………………………………………….86 Chƣơng 3 GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ ÁP DỤNG PHÁP LUẬT VỀ BẢO TỒN ĐA DẠNG SINH HỌC ………………………………………………....87 3.1. Giải pháp hoàn thiện các quy định pháp luật liên quan đến bảo tồn đa dạng sinh học ……………………………………………………………………………………..87 3.1.1 Xây dựng, hoàn thiện pháp luật về bảo tồn đa dạng sinh học …………………....87 3.1.2 Học hỏi, tiếp thu pháp luật các nước trên thế giới trong quá trình hoàn thiện pháp luật về đa dạng sinh học ……………………………………………………………….90 3.2. Hoàn thiện cơ cấu tổ chức thực hiện pháp luật về bảo tồn đa dạng sinh học.....90 3.2.1 Nâng cao hiệu quả áp dụng pháp luật về bảo tồn đa dạng sinh học …………….90 3.2.2 Nâng cao chất lượng cuộc sống, ổn định kinh tế xã hội cho dân cư vùng đệm…91 3.3. Giải pháp bổ trợ …………………………………………………………………..93 3.3.1 Giải pháp giáo dục truyền thông …………………………………………….............94 3.3.2 Một số giải pháp cụ thể ……………………………………………………………..…96 Kết luận Chương 3 …………………………………………………………………….97 KẾT LUẬN …………………………………………………………………………..97 TÀI LIỆU THAM KHẢO ………………………………………………………....98
  6. 6. DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT BTTN: Bảo tồn thiên nhiên BV&PT: Bảo vệ và phát triển BVMT: Bảo vệ môi trường ĐDSH: Đa dạng sinh học HST: Hệ sinh thái SNFC: Lâm nghiệp Xã hội và Bảo tồn Thiên nhiên tỉnh Nghệ An VQG: Vườn quốc gia DANH MỤC CÁC BẢNG trang Bảng 2.1: Danh mục thực vật có mạch ở Vườn quốc gia Pù Mát……... 69 Bảng 2.2: Danh mục động vật tại Vườn quốc gia Pù Mát……………… 70 Bảng 2.3: Nhóm động vật quý hiếm Vườn quốc gia Pù Mát………….. 72 Bảng 2.4: Nhóm động vật quý hiếm tại Pù Mát (theo danh lục IUCN 2007)……………………………………………………………………… 73
  7. 7. 1 MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Bảo tồn đa dạng sinh học (ĐDSH) được coi là một trong những nhiệm vụ quan trọng và là trọng tâm đối với sự phát triển trên toàn thế giới. Với sự phát triển nhanh chóng của kinh tế xã hội cùng với sự quản lý tài nguyên sinh học còn yếu kém đã làm cho ĐDSH bị suy thoái ngày càng nghiêm trọng. Sự mất mát về ĐDSH hiện nay là đáng lo ngại, nhiều loài động thực vật bị đe dọa và nguy cơ tuyệt chủng mà nguyên nhân chủ yếu là do con người sử dụng tài nguyên không hợp lý. Do đó, việc quản lý tài nguyên và bảo tồn ĐDSH là thực sự cần thiết và cấp bách. Nhận thức được giá trị to lớn và tầm quan trọng của ĐDSH, năm 1993 Việt Nam đã phê chuẩn công ước quốc tế về bảo tồn ĐDSH. Năm 1995, Chính phủ đã phê duyệt và ban hành “Kế hoạch hành động ĐDSH ở Vi ệt Nam”. Năm 2007, “Kế hoạch hành động quốc gia về ĐDSH đến năm 2010 và định hướng đến năm 2020” được xây dựng và phê duyệt triển khai [36, tr.1]. Trong số 30 Vườn quốc gia (VQG) hiện đã được công nhận [48], Pù Mát- trung tâm của khu dự trữ sinh quyển Miền Tây Nghệ An với diện tích rừng tự nhiên rộng lớn, được các nhà khoa học trong và ngoài nước đánh giá là một trong những khu rừng đặc dụng có giá trị ĐDSH của vùng Bắc Trung Bộ cũng như của Việt Nam. Không chỉ vậy, Pù Mát còn là một điểm du lịch sinh thái hấp dẫn với những cảnh đẹp vừa hùng vĩ, vừa nên thơ mà thiên nhiên ban tặng cho Nghệ An. VQG Pù Mát là một kho tàng về các nguồn gen hoang dã, quý hiếm. Nơi đây hội tụ đủ tính chất và hệ sinh thái (HST) của một khu rừng nhiệt đới năm tầng với đồi, rừng, sông, suối, các trảng cỏ rộng lớn và những dãy núi đá vôi khổng lồ chạy dài dọc theo sông Giăng. Pù Mát có thảm thực vật phong phú với 2.494 loài thực vật. Hệ động vật cũng rất đa dạng với 1.121 loài [45]. Trong đó có nhiều loài động thực vật quý hiếm được ghi vào sách đỏ Việt Nam và thế giới. Tháng 11 năm 2007, VQG Pù Mát đã được UNESCO công nhận là khu dự trữ sinh quyển thế giới.
  8. 8. 2 Với tiềm năng phong phú như vậy, cũng như các VQG khác, “kho báu xanh” Pù Mát trở thành mục tiêu khai thác, tàn phá của các đối tượng lâm tặc và cả những người dân sống trong vùng. VQG Pù Mát cũng đang đứng trước những khó khăn, thách thức về nhiều mặt để bảo tồn nguồn tài nguyên ĐDSH hiện có. Hiện nay, những nghiên cứu về Pù Mát còn hạn chế và chưa được phổ biến rộng rãi. So với những VQG khác như Cát Bà, Bạch Mã, U Minh Thượng, U Minh Hạ… thì Pù Mát còn lạ lẫm với rất nhiều người. Vì vậy, tôi lựa chọn đề tài “Pháp luật về bảo tồn đa dạng sinh học và thực tiễn áp dụng tại Vườn Quốc gia Pù Mát, huyện Con Cuông, tỉnh Nghệ An” với mong muốn nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật về bảo tồn ĐDSH tại VQG Pù Mát, góp phần bảo tồn và phát triển tài nguyên quý báu của quê hương mình. 2. Tình hình nghiên cứu đề tài Bảo tồn ĐDSH nói chung và pháp luật về bảo tồn ĐDSH hiện nay là một trong những vấn đề rất được quan tâm tại Việt Nam. Vì vậy, đã có một số công trình nghiên cứu liên quan đến vấn đề bảo tồn ĐDSH, tuy nhiên pháp luật về bảo tồn ĐDSH vẫn còn tương đối mới mẻ đối với nhiều người, các nghiên cứu về pháp luật bảo tồn ĐDSH còn khá hạn chế. Có thể kể ra một số đề tài liên quan đến vấn đề bảo tồn ĐDSH đã được nghiên cứu như: - Sách “Bảo tồn đa dạng sinh học” của tác giả Nguyễn Nghĩa Thìn xuất bản năm 1999; - Sách “Đa dạng sinh học và bảo tồn thiên nhiên” xuất bản năm 2002 của tác giả Lê Trọng Cúc; - Đề tài cấp Bộ “Đa dạng sinh học và bảo tồn” của Bộ Tài nguyên và Môi trường năm 2004; - Luận án Tiến sỹ “Nghiên cứu một số giải pháp bảo tồn ĐDSH ở hệ thống rừng đặc dụng vùng Bắc Trung Bộ Việt Nam” do tác giả Trần Thế Liên thực hiện năm 2006;
  9. 9. 3 - Đề tài “Bảo tồn đa dạng sinh học ở Việt Nam- mối liên hệ với phát triển bền vững (SD) và biến đổi khí hậu (CC)” của tác giả Nguyễn Huy Dũng, Võ Văn Dũng, Viện Điều tra quy hoạch rừng tại Hội thảo chuyên đề về đa dạng sinh học và biến đổi khí hậu: Mối liên quan tới đói nghèo và phát triển bền vững tháng 5, 2007; Các đề tài nghiên cứu về pháp luật bảo tồn ĐDSH còn tương đối ít, có thể kể đến một số nghiên cứu như: - Luận văn Thạc sỹ “Luật bảo vệ đa dạng sinh học ở Việt Nam” của Đặng Thị Thu Hải, năm 2006; - Báo cáo Chuyên đề “ Phân tích, đánh giá thực trạng pháp luật đa dạng sinh học ở Việt Nam” của Bộ Tài nguyên Môi trường và Vụ Phổ biến giáo dục pháp luật, năm 2008; - Chuyên đề “Giới thiệu Luật Đa dạng sinh học” do Viện Chiến lược chính sách, Bộ Tài nguyên Môi trường và Vụ Phổ biến giáo dục pháp luật, Bộ Tư pháp thực hiện năm 2008; - “Báo cáo rà soát, đánh giá văn bản quy phạm pháp luật trong lĩnh vực bảo tồn đa dạng sinh học” của Trương Hồng Quang, Viện khoa học pháp lý, Bộ Tư pháp, năm 2009. - Chuyên đề “Thành tựu và thách thức qua 5 năm thực hiện Luật Đa dạng sinh học” của GS.TS Đặng Huy Huỳnh, năm 2013; Ngoài ra còn có một số bài viết đăng trên các báo, tạp chí như: - Bài viết “Pháp luật về bảo tồn đa dạng sinh học, thực trạng và tồn tại trước khi có Luật Đa dạng sinh học”, của TS. Nguyễn Văn Tài đăng trên Tạp chí Nghiên cứu lập pháp số 133, năm 2008; - Bài viết “Pháp luật về đa dạng sinh học một số nước và kinh nghiệm cho Việt Nam”, của Thạc sĩ Huỳnh Thị Mai, đăng trên Tạp chí Nghiên cứu lập pháp số 133, 2008; Tuy nhiên những nghiên cứu về bảo tồn đa dạng sinh học chủ yếu là những nghiên cứu thuộc về lĩnh vực khoa học môi trường hơn là lĩnh vực pháp lý. Các nghiên
  10. 10. 4 cứu về pháp luật bảo tồn ĐDSH, trước thời điểm có Luật ĐDSH năm 2008 có một số đề tài, tuy nhiên sau khi ban hành Luật ĐDSH năm 2008 chưa có một đề tài nghiên cứu tổng thể đánh giá về pháp luật bảo tồn ĐDSH, nhất là chưa có bất kỳ một đề tài nào nghiên cứu về thực tiễn áp dụng pháp luật về bảo tồn ĐDSH tại các khu bảo tồn thiên nhiên (BTTN). 3. Mục tiêu nghiên cứu 3.1. Mục tiêu tổng quát: Nghiên cứu tổng quát về pháp luật bảo tồn ĐDSH tại Việt Nam, phân tích, đánh giá thực tiễn áp dụng pháp luật về bảo tồn ĐDSH tại VQG Pù Mát, tìm ra những nguyên nhân hạn chế hiệu quả thực thi pháp luật từ đó đưa ra những kiến nghị, giải pháp nhằm nâng cao hiệu thực thi pháp luật về bảo tồn ĐDSH. 3.2. Mục tiêu cụ thể: Để đạt được mục đích của luận văn, cần phải hoàn thành các mục tiêu cụ thể: - Hệ thống hóa, phân tích đánh giá được các quy định pháp luật về bảo tồn ĐDSH tại Việt Nam; - Phân tích pháp luật về bảo tồn ĐDSH của một số quốc gia trên thế giới từ đó rút ra bài học kinh nghiệm cho Việt Nam; - Khái quát về tình hình ĐDSH của VQG Pù Mát, phân tích và đánh giá được thực tiễn áp dụng pháp luật về bảo tồn ĐDSH tại VQG Pù Mát; - Làm rõ những nguyên nhân hạn chế hiệu quả thực thi pháp luật về bảo tồn ĐDSH tại VQG Pù Mát từ đó đề xuất các giải pháp nhằm đẩy mạnh và áp dụng có hiệu quả pháp luật về bảo tồn ĐDSH tại VQG Pù Mát. 4. Tính mới và những đóng góp của đề tài Đứng trước những thách thức về sự suy thoái của môi trường đối với đời sống của con người, bảo tồn ĐDSH cùng với tăng trưởng xanh và phát triển bền vững là một trong những vấn đề lớn, được quan tâm ở quy mô toàn thế giới. Vấn đề bảo tồn ĐDSH không phải là mới, tuy nhiên ở Việt Nam chỉ mới thực sự được quan tâm trong những năm gần đây. Pháp luật về bảo tồn ĐDSH bắt đầu có những bước đột phá từ sau khi
  11. 11. 5 Luật ĐDSH năm 2008 ra đời. Từ đó cho đến nay, đã có một số công trình nghiên cứu về Luật ĐDSH năm 2008 nhưng chưa có một công trình nghiên cứu tổng quát về toàn bộ pháp luật bảo tồn ĐDSH và cũng chưa có một nghiên cứu nào về thực tiễn áp dụng pháp luật về bảo tồn ĐDSH tại các khu BTTN, trong khi các khu BTTN là nguồn ĐDSH rất quan trọng đối với quốc gia, khu vực và thế giới. Bên cạnh đó, VQG Pù Mát tuy đã được công nhận là khu dự trữ sinh quyển thế giới từ năm 2007, nhưng hiện có rất ít nghiên cứu về VQG Pù Mát mặc dù VQG Pù Mát có rất nhiều tiềm năng về tài nguyên thiên nhiên và du lịch. Xuất phát từ lý do đó, luận văn sẽ tập trung vào việc nghiên cứu, phân tích đánh giá tổng quát về pháp luật bảo tồn ĐDSH hiện hành và thực tiễn áp dụng tại VQG Pù Mát, tìm ra những khó khăn bất cập, từ đó nêu ra các kiến nghị giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả thực thi của pháp luật, góp phần bảo vệ nguồn ĐDSH phong phú tại VQG của quê hương mình. Vì vậy việc nghiên cứu mang tính cấp thiết và không bị trùng lắp. 5. Đối tƣợng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu 5.1. Đối tượng nghiên cứu: Các quy định pháp luật về bảo tồn ĐDSH và thực tiễn áp dụng tại VQG Pù Mát, tỉnh Nghệ An. 5.2. Phạm vi nghiên cứu: Với đề tài “Pháp luật bảo tồn đa dạng sinh học và thực tiễn áp dụng tại Vườn quốc gia Pù Mát, huyện Con Cuông, tỉnh Nghệ An” Luận văn chỉ tập trung nghiên cứu, đánh giá những quy định pháp luật hiện hành về bảo tồn ĐDSH, đánh giá thực tiễn áp dụng các quy định pháp luật tại VQG Pù Mát chỉ ra những khó khăn, bất cập trong quá trình thực thi áp dụng pháp luật, đồng thời đề ra các kiến nghị, giải pháp. 6. Nội dung và phƣơng pháp nghiên cứu 6.1. Nội dung nghiên cứu Luận văn nghiên cứu các nội dung sau: - Cơ sở lý luận và thực tiễn về bảo tồn ĐDSH và pháp luật về bảo tồn ĐDSH; - Thực trạng pháp luật về bảo tồn ĐDSH tại Việt Nam;
  12. 12. 6 - Thực trạng ĐDSH tại VQG Pù Mát và thực tiễn áp dụng pháp luật bảo tồn ĐDSH tại VQG Pù Mát; - Một số giải pháp nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật bảo tồn ĐDSH tại VQG Pù Mát. 6.2. Phương pháp nghiên cứu Để thực hiện được mục tiêu nghiên cứu nói trên, luận văn sử dụng một số phương pháp nghiên cứu sau: Phương pháp duy vật biện chứng, phương pháp phân tích hệ thống nhằm đưa ra những đánh giá từ cụ thể cho đến tổng quát đối với các quy định pháp luật về bảo tổn ĐDSH cũng như việc áp dụng thực tiễn tại VQG Pù Mát; phương pháp so sánh giữa pháp luật Việt Nam với pháp luật quốc tế về bảo tồn ĐDSH, giữa pháp luật bảo tồn ĐDSH trước khi có Luật ĐDSH năm 2008 và pháp luật bảo tồn ĐDSH sau khi có Luật ĐDSH năm 2008, để tìm ra những mặt tích cực và hạn chế của các quy định pháp luật hiện hành về bảo tồn ĐDSH của Việt Nam; phương pháp tổng hợp, thống kê các số liệu thực tế về thực trạng ĐDSH của Việt Nam, thực trạng ĐDSH của VQG Pù Mát, cũng như thực trạng áp dụng các quy định pháp luật về bảo tồn ĐDSH tại VQG Pù Mát làm dẫn chứng minh họa cho Luận văn. 7. Kết cấu của luận văn Ngoài phần mở đầu, phần kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn được kết cấu thành 3 chương: Chương 1: Những vấn đề lý luận chung về đa dạng sinh học và pháp luật về bảo tồn đa dạng sinh học Chương 2: Thực trạng pháp luật về bảo tồn đa dạng sinh học và thực tiễn áp dụng tại Vườn quốc gia Pù Mát, huyện Con Cuông, tỉnh Nghệ An Chương 3: Giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả áp dụng pháp luật về bảo tồn đa dạng sinh học
  13. 13. 7 Chƣơng 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ ĐA DẠNG SINH HỌC VÀ PHÁP LUẬT BẢO TỒN ĐA DẠNG SINH HỌC 1. 1 Đa dạng sinh học và bảo tồn đa dạng sinh học 1.1.1 Khái niệm đa dạng sinh học Năm 1989, Quỹ Bảo vệ thiên nhiên Quốc tế (WWF) đã định nghĩa: “ĐDSH là sự phồn thịnh của sự sống trên trái đất, là hàng triệu loài thực vật, động vật và vi sinh vật, là những gen chứa đựng trong các loài và là những HST vô cùng phức tạp cùng tồn tại trong môi trường’’. ĐDSH bao gồm 3 cấp độ: Đa dạng nguồn gen, đa dạng loài và đa dạng HST. [24, tr1]. Theo Công ước đa dạng sinh học năm 1992 thì ĐDSH là sự phong phú các sinh vật sống gồm các HST trên cạn, HST biển, các HST nước ngọt, và tập hợp các HST mà sinh vật chỉ là một bộ phận. ĐDSH bao gồm sự đa dạng trong một loài (đa dạng gen) hay còn gọi là đa dạng di truyền, sự đa dạng giữa các loài (đa dạng loài) và sự đa dạng hệ sinh thái. Nói cách khác ĐDSH là sự đa dạng của sự sống ở các cấp độ và các tổ hợp [36, tr.4]. Có thể coi ĐDSH là khái niệm bao hàm đa dạng HST (số lượng các loài trong quần xã), đa dạng loài và đa dạng di truyền (tức là sự phong phú về gen). Đa dạng HST là tất cả mọi sinh cảnh, mọi quần xã sinh vật và mọi quá trình sinh thái khác nhau, cũng như sự biến đổi trong từng hệ sinh thái. Đa dạng loài là số lượng và sự đa dạng của các loài được tìm thấy tại một khu vực nhất định tại một vùng nào đó. Đa dạng di truyền là tất cả các gen di truyền khác nhau của tất cả các cá thể thực vật, động vật, nấm, và vi sinh vật. Đa dạng di truyền tồn tại trong một loài và giữa các loài khác nhau . Đa dạng di truyền là sự đa dạng về thành phần gen giữa các cá thể trong cùng một loài và giữa các loài khác nhau; là sự đa dạng về gen có thể di truyền được trong một quần thể hoặc giữa các quần thể.
  14. 14. 8 Trong Luật ĐDSH của nước ta được Quốc hội thông qua ngày 13 tháng 11 năm 2008, định nghĩa: “Đa dạng sinh học là sự phong phú về gen , loài sinh vật và hệ sinh thái trong tự nhiên . Gen là một đơn vi ̣di truyền , một đoa ̣n của vâ ̣t chất di truyền quy đi ̣nh các đă ̣c tính cụthể của sinh vâ ̣t . Hệ sinh thái là quần xã sinh vật và các yếu tố phi sinh vâ ̣t của một khu vực đi ̣a lý nhất đi ̣nh , có tác động qua lại và trao đổi vật chất với nhau. Hê ̣sinh thái tự nhiên là hê ̣sinh thái hình thành , phát triển theo quy luật tự nhiên , vẫn còn giữ được các nét hoang sơ . Hê ̣sinh thái tự nhiên mới là hê ̣sinh thái mới hình thành và phát triển trên vùng bãi bồi tại cửa sông ven biển , vùng có phù sa bồi đắp và các vùng đất khác” [30, Điều 3]. Ngoài ra ĐDSH còn được định nghĩa trong Luật bảo vệ môi trường (BVMT) năm 2005 như sau: “Đa dạng sinh học là sự phong phú về nguồn gen, loài sinh vật và hệ sinh thái” [29, Điều 3]. 1.1.2 Bảo tồn đa dạng sinh học Bảo tồn ĐDSH là quá trình quản lý mối tác động qua lại giữa con người với các gen, các loài và các HST nhằm mang lại lợi ích lớn nhất cho thế hệ hiện tại và vẫn duy trì tiềm năng để đáp ứng nhu cầu của các thế hệ mai sau. Có nhiều phương pháp và công cụ để quản lý bảo tồn ĐDSH. Một số phương pháp và công cụ được sử dụng để phục hồi một số loài quan trọng, các dòng di truyền hay các sinh cảnh. Một số khác được sử dụng để sản xuất một cách bền vững các sản phẩm hàng hóa và dịch vụ từ các tài nguyên sinh vật,…[36, tr.5]. Có thể phân chia các phương pháp và công cụ thành các nhóm như sau: Một là bảo tồn tại chỗ (Bảo tồn In situ): Bảo tồn tại chỗ bao gồm các phương pháp và công cụ nhằm mục đích bảo vệ các loài, các chủng và các sinh cảnh, các HST trong điều kiện tự nhiên [36, tr.5]. Tùy theo đối tượng bảo tồn mà các hành động quản lý thay đổi. Thông thường bảo tồn tại chỗ được thực hiện bằng cách thành lập các khu bảo tồn và áp dụng các biện pháp quản lý phù hợp.
  15. 15. 9 Hai là bảo tồn chuyển chỗ (ex-situ conservation): Bảo tồn chuyển chỗ bao gồm các biện pháp di dời các loài cây, con và các sinh vật ra khỏi môi trường sống tự nhiên của chúng [36, tr.5]. Mục đích của việc di dời này là để nhân giống, lưu giữ, nhân nuôi vô tính hay cứu hộ trong trường hợp: (1) nơi sống bị suy thoái hay hủy hoại không thể lưu giữ lâu hơn các loài nói trên, (2) dùng để làm vật liệu cho nghiên cứu, thực nghiệm và phát triển sản phẩm mới, để nâng cao kiến thức cho cộng đồng. Bảo tồn chuyển chỗ bao gồm các vườn thực vật, vườn động vật, các bể nuôi thủy hải sản, các ngân hàng giống… Ba là phục hồi (Rehabilitation): Bao gồm các biện pháp để dẫn đến bảo tồn tại chỗ hay bảo tồn chuyển chỗ [36, tr.6]. Các biện pháp này được sử dụng để phục hồi lại các loài, các quần xã, sinh cảnh, các quá trình sinh thái. Việc hồi phục sinh thái bao gồm một số công việc như phục hồi lại các HST tại những vùng đất đã bị suy thoái bằng cách nuôi trồng lại các loài bản địa chính, tạo lại các quá trình sinh thái, tạo lại vòng tuần hoàn vật chất, chế độ thủy văn, tuy nhiên không phải là để sử dụng cho công việc vui chơi, giải trí hay phải phục hồi đủ các thành phần động thực vật như trước đã từng có. Một trong những mục tiêu quan trọng trong việc bảo tồn sinh học là bảo vệ các đại diện của HST và các thành phần của ĐDSH. Ngoài việc xây dựng các khu bảo tồn cũng cần thiết phải giữ gìn các thành phần của sinh cảnh hay các hành lang còn sót lại trong khu vực mà con người đã làm thay đổi cảnh quan thiên nhiên, và bảo vệ các khu vực được xây dựng để thực hiện chức năng sinh thái đặc trưng quan trọng cho công tác bảo tồn ĐDSH. 1.1.3 Ý nghĩa của đa dạng sinh học và bảo tồn đa dạng sinh học ĐDSH là yếu tố đặc biệt quan trọng, sống còn với phát triển bền vững, đảm bảo cho sự tồn tại và phát triển của con người trong quá khứ, hiện tại và tương lai. ĐDSH có những giá trị kinh tế, giá trị môi trường, giá trị cuộc sống to lớn mà cho đến một vài thế kỷ gần đây chúng ta mới nhận thức được một cách đầy đủ [42]. Thứ nhất, về mặt môi trường, ĐDSH có khả năng điều hoà khí hậu, điều tiết mọi biến động của môi trường do thiên nhiên tạo ra và bảo vệ môi trường trước những biến
  16. 16. 10 động đó. Chu kỳ quang hợp hay đồng hoá chất diệp lục và việc chuyển hoá các chất vô cơ thành hữu cơ của thực vật trong thiên nhiên đã tạo nên sự sống cho tất cả sinh vật trên Trái đất, trong đó có con người. Những khu rừng được mệnh danh “lá phổi thế giới” là bộ máy tự nhiên khổng lồ lọc khí cacbonic và tạo ôxy để có môi trường trong lành cho con người hô hấp. Các hệ thực vật có chức năng bảo vệ vùng đầu nguồn, vùng ven biển, bảo vệ đất trong việc chắn sóng, bão, lũ, điều chỉnh và ổn định đất trên các vùng đất dốc làm giảm tác hại của lũ lụt và xói mòn đất. Thứ hai, về kinh tế, ĐDSH là nguồn cung cấp lương thực, thực phẩm, thuốc chữa bệnh, nguyên liệu chế biến thuốc, nước và nguyên liệu trong sản xuất cho con người. Giá trị trực tiếp và quan trọng nhất của các loài đối với con người là dùng làm thức ăn, rất nhiều loài động, thực vật có thể ăn được và một số loài đã được đưa vào nuôi trồng để cung cấp thức ăn cho con người. Các loại dược phẩm có nguồn gốc tự nhiên có vai trò quan trọng trong công tác bảo vệ sức khoẻ trên phạm vi toàn cầu, đặc biệt ở các nước kém phát triển việc chăm sóc sức khoẻ, thuốc chữa bệnh chủ yếu bằng dược phẩm truyền thống (nước ta gọi là đông y, thuốc nam). Ngoài ra, ĐDSH còn mang lại những giá trị vật chất khác từ các hệ sinh thái tự nhiên hoặc bán tự nhiên, như là nơi giải trí, du lịch, giáo dục, nghiên cứu,… ĐDSH cũng phản ánh sự phong phú cùng những nét đẹp của thiên nhiên dành cho một quốc gia [42]. Tuy nhiên, sự ĐDSH tỷ lệ nghịch với sự phát triển và tiến hoá của loài người. Cùng với tiến trình phát triển kinh tế, xã hội và để đáp ứng nhu cầu của mình, con người đã áp dụng khoa học kỹ thuật ngày càng hiện đại vào khai thác các nguồn tài nguyên thiên nhiên phục vụ lợi ích của con người, để cải tiến cuộc sống, thậm chí con người còn điều khiển tự nhiên, làm thay đổi tự nhiên. Do vậy, các HST đều chịu tác động của loài người, bị thay đổi, và tiến tới bị huỷ diệt. Khi ĐDSH bị xâm phạm thì sự tồn tại của con người trên Trái đất sẽ bị đe doạ. Con người sẽ bị cạn dần nguồn thức ăn, thuốc chữa bệnh, ô nhiễm môi trường, thiên tai, dịch bệnh [42]… ĐDSH đang bị suy
  17. 17. 11 giảm với tốc độ nhanh, thể hiện sự suy giảm và tuyệt chủng của một số loài. Do vậy, năm 1948 tại Fontainebleau (Pháp), Liên hợp quốc đã thành lập Tổ chức bảo vệ thiên nhiên quốc tế, viết tắt là IUPN (International Union for the Protection of Nature) nhằm bảo vệ và phát triển bền vững các nguồn tài nguyên thiên nhiên. Đến năm 1956 tổ chức này đổi tên thành Tổ chức bảo tồn thiên nhiên quốc tế, viết tắt là IUCN (International Union for Conservation of Nature). Đến nay, rất nhiều tổ chức quốc tế về bảo tồn đa dạng sinh học đã được thành lập, như Quỹ bảo tồn thiên nhiên quốc tế - WWF (World Wide Fund for Nature), Hội bảo tồn sinh học (Society for Conservation Biology), Trung tâm Giám sát bảo tồn toàn cầu - WCMC (World Conservation Monitoring Centre), Cơ quan Bảo tồn quốc tế - CI (Conservation International) … 1.1.4 Vai trò của khu bảo tồn thiên nhiên trong việc bảo tồn đa dạng sinh học Khu bảo tồn thiên nhiên là vùng đất hay vùng biển đặc biệt được dành để bảo vệ và duy trì tính đa dạng sinh học, các nguồn tài nguyên thiên nhiên, kết hợp với việc bảo vệ các tài nguyên văn hoá và được quản lí bằng pháp luật hoặc các phương thức hữu hiệu khác. Theo nghĩa hẹp, khu bảo tồn thiên nhiên còn gọi là khu dự trữ tự nhiên và khu bảo toàn loài sinh cảnh, là vùng đất tự nhiên được thành lập nhằm mục đích đảm bảo diễn thế tự nhiên. Việc thành lập các khu bảo tồn thiên nhiên chính là phương pháp phổ biến nhất để có thể bảo tồn tại chỗ cũng như áp dụng các biện pháp để phục hồi, chính vì vậy các khu bảo tồn thiên nhiên có ý nghĩa rất quan trọng đối với việc bảo tồn đa dạng sinh học. Thứ nhất, các khu bảo tồn hoạt động như một kho chứa đa dạng sinh học của đất nước – đa dạng nguồn gen, đa dạng loài và đa dạng hệ sinh thái. Yêu cầu đối với việc thành lập một khu BTTN phải là vùng đất tự nhiên có dự trữ tài nguyên thiên nhiên và có giá trị đa dạng sinh học cao; có giá trị cao về khoa học, giáo dục, du lịch; có các loài động thực vật đặc hữu hoặc là nơi cư trú, ẩn náu, kiếm ăn của các loài động vật hoang dã quý hiếm và đủ rộng để chứa được một hay nhiều hệ sinh thái, tỷ lệ cần bảo tồn trên
  18. 18. 12 70%. Trên cơ sở đó, để áp dụng các biện pháp để bảo vệ các loài, các chủng và các sinh cảnh, các HST trong điều kiện tự nhiên. Thứ hai, với việc quy hoạch, phân vùng và áp dụng tổng hợp các biện pháp bảo vệ, phát triển, tạo các điều kiện thuận lợi để các loài, các hệ sinh thái tồn tại và phát triển, các khu bảo tồn còn giúp bảo tồn đa dạng sinh học hiếm có của Việt Nam để các thế hệ tương lai có thể thấy được vẻ đẹp hệ động thực vật của đất nước. Các khu bảo tồn như là một thiên đường an toàn cho nhiều loài động vật hoang dã đang nguy cấp nghiêm trọng như tê giác một sừng, voọc mũi hếch (Pygathrix avunculus) và voọc đầu trắng (Trachypithecus poliocephalus). Cuối cùng, các khu bảo tồn tạo điều kiện cho các quá trình tự nhiên được tiến triển để cho các loài có thể tiếp tục tham gia và thích nghi với các thay đổi về môi trường. Những thay đổi này là rất quan trọng đối với sự phát triển của nhiều loài về lâu dài. 1 .2 Pháp luật bảo tồn đa dạng sinh học 1.2.1 Khái niệm và ý nghĩa của pháp luật bảo tồn đa dạng sinh học 1.2.1.1 Khái niệm Nhận thức được ý nghĩa và tầm quan trọng của việc bảo tồn ĐDSH, trên thế giới đã có khá nhiều nước xây dựng pháp luật về bảo tồn ĐDSH dựa trên 3 cấu thành đó là: pháp luật về bảo tồn đa dạng loài, pháp luật về bảo tồn đa dạng HST và pháp luật về bảo tồn đa dạng nguồn gen. Theo đó, nội dung chính của pháp luật bảo tồn ĐDSH đó là hệ thống các quy phạm pháp luật xác định các quy tắc xử sự chung mang tính bắt buộc, quy định một số hành vi, một số hoạt động mà các chủ thể cần phải thực hiện hoặc không được thực hiện cũng như các chế tài xử phạt trong lĩnh vực bảo tồn ĐDSH [17]. 1.2.1.2 Ý nghĩa Trước hiện trạng suy thoái ĐDSH nghiêm trọng như hiện nay, các quốc gia trên thế giới đang tìm kiếm và áp dụng tổng hợp các biện pháp như chính trị, tuyên truyền,
  19. 19. 13 giáo dục, kinh tế, công nghệ...các biện pháp này sẽ hỗ trợ, tương tác cho nhau nhằm bảo tồn ĐDSH, đồng thời ngăn chặn và khắc phục những hậu quả xấu do con người, thiên nhiên gây ra... Trong các biện pháp bảo tồn ĐDSH, mỗi biện pháp có điểm mạnh và điểm hạn chế riêng thì pháp luật được xem là công cụ đảm bảo thực hiện. Sự suy thoái ĐDSH chủ yếu là do sự tàn phá của con người và đối tượng để thực hiện việc bảo tồn ĐDSH cũng chính là con người. Vì vậy, muốn bảo tồn ĐDSH trước hết là tác động đến hành vi con người. Pháp luật thông qua các hệ thống quy phạm để điều chỉnh hành vi xử sự của con người và được đảm bảo thực hiện bằng quyền lực nhà nước sẽ có tác dụng rất lớn trong việc bảo tồn ĐDSH. Công cụ pháp chế hay luật pháp có thể được áp dụng tại các cấp địa phương, quốc gia, hay quốc tế để bảo vệ tất cả các khía cạnh của ĐDSH. Với một hệ thống các quy phạm pháp luật quy định liên quan đến các vấn đề bảo tồn ĐDSH, pháp luật về bảo tồn ĐDSH tạo cơ sở pháp lý cho hoạt động bảo tồn ĐDSH của các chủ thể, đồng thời cung cấp một cơ chế pháp lý để xử phạt các hành vi gây nguy hại đến việc bảo tồn ĐDSH. 1.2.2 Tổng quan thỏa thuận quốc tế và sự tham gia của Việt Nam trong bảo tồn đa dạng sinh học Bảo tồn ĐDSH cần có sự tham gia của các quốc gia trên thế giới. Các cơ chế kiểm soát hiện đang tồn tại trên thế giới được dựa trên cơ sở của mỗi quốc gia và sự thỏa hiệp quốc tế là khả năng bảo tồn loài và sinh cảnh. Hợp tác quốc tế trong bảo tồn ĐDSH là thực sự cần thiết [42]. Thỏa hiệp quan trọng nhất trong việc bảo vệ các loài ở quy mô quốc tế là Công ước về buôn bán các loài đang có nguy cơ tuyệt chủng (Convention on International Trade in Endangered Species of Wide Fauna and Floral – CITES). Công ước ra đời năm 1973 với sự tham gia của 120 nước, đồng thời có sự phối hợp với chương trình môi trường Liên Hợp Quốc. Theo Công ước này, các quốc gia thành viên đồng ý hạn chế buôn bán và khai thác có tính hủy diệt những loài nằm trong danh sách nhất trí của
  20. 20. 14 Công ước. Công ước có 25 Điều và 3 phụ lục. Việt Nam là thành viên thứ 122 của CITES, được chấp nhận ngày 20/4/1994 [42]. Một số công ước bảo tồn khác có thể kể đến như: Công ước về bảo tồn các loài động vật di cư (1979); Công ước về bảo tồn các loài sinh vật biển vùng Nam Cực; Công ước về điều tiết săn bắt cá voi; Công ước về bảo vệ các loài chim; Công ước về đánh bắt và bảo vệ sinh vật biển ở Vịnh Ban tích. Các Công ước về bảo tồn sinh cảnh có thể kể đến 3 Công ước quan trọng: Công ước về bảo vệ các vùng đất ướt Ramsar (Ramsar Convention on Wetlands) ra đời năm 1971 nhằm ngăn chặn sự xuống cấp của các vùng đất ướt và thừa nhận các giá trị sinh thái, khoa học, kinh tế, văn hóa và giải trí của chúng; Công ước về bảo tồn văn hóa thế giới và Di sản thiên nhiên (Convention Concerning the Protection of the World Cultural and Natural Heritage) của UNESCO, IUCN với 109 nước tham gia, mục đích nhằm bảo vệ các vùng đất tự nhiên đáng chú ý trên thế giới; Mạng lưới khu dự trữ sinh quyển (International Network of Biosphere Resevers) được thiết lập bởi chương trình “Con người và Sinh quyển” của UNESCO…Ngoài ra còn một số công ước khác liên quan đến ngăn chặn ô nhiễm môi trường cũng đã được ký kết. Về Hội nghị Thượng đỉnh toàn cầu liên quan đến bảo tồn ĐDSH có thể kể đến Hội nghị Liên Hợp Quốc về môi trường và phát triển (United Nations Conference on Enviroment and Development –UNCED) diễn ra tại Rio de Janeiro, Braxin, trong thời gian 12 ngày vào tháng 6/1992. Tham gia Hội nghị có 178 nước với hơn 100 nguyên thủ quốc gia, cùng với những người đứng đầu Liên Hợp Quốc, các tổ chức phi chính phủ và các tổ chức bảo tồn khác trên thế giới. Các thành viên Hội nghị đã bàn bạc và đi đến thỏa thuận ký kết 5 văn bản chính thức và khởi xướng thực hiện nhiều dự án mới liên quan đến công tác bảo tồn và phát triển bền vững. Một là Tuyên bố Rio (The Rio Declaration): Tuyên bố nêu rõ những nguyên tắc có tính định hướng cho các quốc gia về môi trường và phát triển.
  21. 21. 15 Hai là Công ước về sự thay đổi khí hậu toàn cầu (Convention on Global Climate): Công ước này đòi hỏi các nước công nghiệp phải giảm thiểu các chất gây ô nhiễm và các khí nhà kính khác do họ gây ra và phải thường xuyên báo cáo về tiến trình này. Ba là Công ước về ĐDSH (Convention on Biological Diversity): Công ước này có 3 mục tiêu: Bảo vệ ĐDSH, sử dụng bền vững ĐDSH, phân phối công bằng lợi nhuận của các sản phẩm mới lấy từ các loài hoang dã và các loài thuần dưỡng. Đã có 170 nước phê chuẩn Công ước ĐDSH. Việt Nam là thành viên thứ 99 (ký Công ước vào tháng 10/1994) và Công ước này chính thức có hiệu lực tại Việt Nam từ ngày 28/11/1994 [10]. Bốn là Tuyên bố các nguyên tắc đối với rừng (Statement on Forest Principles): Tuyên bố đưa ra lời kêu gọi về quản lý rừng theo hướng bền vững. Năm là Lịch trình 21 (Agenda 21): Tài liệu này ra đời là một cố gắng để trình bày một cách có hệ thống và toàn diện những chính sách liên quan đến phát triển bền vững. Trong xu thế hội nhập kinh tế quốc tế và trước những biến động về môi trường, thiên nhiên, nhận thức vai trò to lớn của đa dạng sinh học đối với sự phát triển hiện tại và tương lai của cả loài người, Việt Nam đã tham gia rất nhiều các công ước quốc tế liên quan đến bảo tồn đa dạng sinh học nhằm bảo tồn và phát triển bền vững đa dạng sinh học của Việt Nam và toàn trái đất. Có thể kể đến một số thoả thuận và công ước quốc tế về đa dạng sinh học mà Việt Nam đã tham gia như [42]: Công ước về đa dạng sinh học, năm 1992; Nghị định thư Cartagena về An toàn sinh học, năm 2000; Công ước về các vùng đất ngập nước có tầm quan trọng quốc tế, đặc biệt như là nơi cư trú của các loài chim nước (còn gọi là Công ước Ramsar), năm 1971; Nghị định thư bổ sung công ước về các vùng đất ngập nước có tầm quan trọng, đặc biệt như là nơi cư trú của loài chim nước, Pari năm 1982; Cam kết quốc tế về phổ biến và sử dụng thuốc diệt côn trùng (còn gọi là Công ước FAO), năm 1985; Công ước về buôn bán quốc tế
  22. 22. 16 những loài động vật, thực vật có nguy cơ bị đe dọa (còn gọi là Công ước CITES), năm 1973; Công ước khung của Liên hợp quốc về biến đổi khí hậu, năm 1992; Công ước Viên 1985 về bảo vệ tầng ô zôn, năm 1985; Nghị định thư Montreal về các chất làm suy giảm tầng ô zôn, năm 1987. [42] 1.2.3 Kinh nghiệm quốc tế về pháp luật bảo tồn đa dạng sinh học và sự gợi mở đối với Việt Nam Việc bảo vệ các giá trị của ĐDSH là mối quan tâm hàng đầu của nhiều quốc gia trên thế giới. Trên thực tế, các nước có Luật Đa dạng sinh học đã quản lý và bảo vệ tốt nguồn tài nguyên đa dạng sinh học, đồng thời hạn chế các họat động làm suy giảm các nguồn tài nguyên thiên nhiên và ĐDSH. Vì vậy, việc tham khảo pháp luật nước ngoài về bảo tồn ĐDSH là hết sức cần thiết cho việc xây dựng pháp luật về đa dạng sinh học ở Việt Nam [22]. 1.2.3.1 Pháp luật một số quốc gia về bảo tồn đa dạng sinh học Có thể đưa ra đây một số kinh nghiệm của các nước về các nội dung của vấn đề bảo tồn và phát triển ĐDSH của các nước như sau: Một là quy hoạch BTTN (kinh nghiệm của Hungary): Để xác định nhiệm vụ và chính sách của nhà nước liên quan đến BTTN và ĐDSH; bảo đảm điều tra, đánh giá, bảo tồn và phục hồi các giá trị thiên nhiên và cảnh quan, nơi cư trú tự nhiên, các loài động, thực vật hoang dã và các di sản thiên nhiên; điều phối các nhiệm vụ liên quan, Hungary xây dựng quy hoạch tổng thể bảo tồn thiên nhiên quốc gia trong khuôn khổ của Chương trình bảo vệ môi trường quốc gia. Quy hoạch tổng thể bao gồm: xác định ranh giới các khu vực tự nhiên, xác định các quá trình và hoạt động quan trọng đối với bảo tồn đa dạng sinh học; các yêu cầu chung, nhiệm vụ của ngành và liên ngành để bảo tồn khu vực tự nhiên và giá trị thiên nhiên; các định hướng trung hạn và dài hạn để bảo tồn các khu vực và giá trị thiên nhiên cần được bảo vệ, thành lập các khu bảo tồn mới; các định hướng trung hạn và dài hạn để thành lập và duy trì mạng sinh thái và hành lang sinh thái; các định hướng trung hạn và dài hạn để thành lập và duy trì các hệ thống
  23. 23. 17 và khu vực nhạy cảm về môi trường; chương trình trung hạn và dài hạn cho nghiên cứu, phát triển, nhiệm vụ tuyên truyền, giáo dục và phổ biến hoạt động bảo tồn thiên nhiên; các nguyên tắc thành lập và hoạt động của hệ thống quan sát, thu thập dữ liệu, đăng ký và đánh giá các giá trị tự nhiên [22]. Hai là Thành lập và quản lý các khu bảo tồn (kinh nghiệm của Nam Phi): Hệ thống khu bảo tồn của Nam Phi được phân hạng theo Khu BTTN đặc biệt; Khu di sản thế giới; Khu rừng phòng hộ đặc biệt; Lưu vực chân núi. Các khu bảo tồn ở Nam Phi được phân thành khu bảo tồn quốc gia, khu bảo tồn tỉnh và khu bảo tồn địa phương. Khi các khu bảo tồn được công bố, kế hoạch quản lý được xây dựng nhằm bảo vệ, bảo tồn và quản lý các khu bảo tồn. Bộ Môi trường và Du lịch của Nam Phi chịu trách nhiệm thành lập và quản lý hệ thống khu bảo tồn [22]. Ba là quản lý HST, vùng sinh thái (kinh nghiệm của Slovenia): Về bảo tồn kiểu nơi cư trú, Luật bảo tồn thiên nhiên Slovenia quy định việc duy trì kiểu nơi cư trú ở trạng thái thuận lợi góp phần bảo tồn HST. Kiểu nơi cư trú ở trạng thái thuận lợi trong các điều kiện sau: phạm vi tự nhiên và khu vực của nó bao hàm trong phạm vi chung và ổn định; cấu trúc kiểu nơi cư trú và các quá trình tự nhiên hoặc sử dụng hợp lý bảo đảm khả năng tự bảo tồn của nó; không có các quá trình có thể huỷ hoại cấu trúc và chức năng của nó và do vậy đe doạ khả năng tự bảo tồn trong tương lai dự báo được; bảo đảm trạng thái thuận lợi của kiểu nơi cư trú đặc trưng. [22] Khu vực quan trọng sinh thái: Là khu vực của kiểu nơi cư trú, một bộ phận của nó hoặc đơn vị HST lớn góp phần quan trọng vào bảo tồn ĐDSH. Chính phủ xác định khu vực quan trọng về sinh thái và bảo đảm bảo vệ chúng thông qua các biện pháp bảo vệ các đặc trưng tự nhiên có giá trị; Nguyên tắc thực hiện, chế độ bảo tồn hoặc định hướng phát triển cụ thể hoá trong tư liệu là cơ sở nhiệm vụ của quy hoạch không gian và sử dụng tài sản thiên nhiên [22]
  24. 24. 18 Khu vực bảo vệ đặc biệt: Là khu vực quan trọng sinh thái, quan trọng để duy trì hoặc đạt tình trạng thuận lợi của các loài, nơi cư trú và kiểu nơi cư trú. Chính phủ quy định và bảo đảm bảo vệ chúng thông qua các biện pháp bảo vệ đặc trưng tự nhiên có giá trị. Nguyên tắc thực hiện, chế độ bảo vệ hoặc định hướng phát triển cụ thể hoá trong tư liệu là cơ sở nhiệm vụ của quy hoạch không gian và sử dụng tài sản thiên nhiên. [22] Bốn là bảo tồn và phát triển bền vững các loài sinh vật (kinh nghiệm của Trung Quốc): Luật Bảo vệ đời sống hoang dã của Trung Quốc quy định Nhà nước bảo vệ đời sống hoang dã và môi trường sống của chúng và nghiêm cấm mọi tổ chức, cá nhân săn bắn, đánh bắt và phá hoại đời sống hoang dã. Các sở, ban, ngành quản lý đời sống hoang dã các cấp giám sát và quan trắc tác động của môi trường đối với đời sống hoang dã, thường xuyên tiến hành điều tra các nguồn tài nguyên hoang dã và lưu trữ thông tin. Đồng thời, Luật cũng có những quy định nghiêm cấm săn bắn, đánh bắt hoặc giết hại các loài hoang dã thuộc danh mục được bảo vệ đặc biệt của Nhà nước; khuyến khích thuần hoá và gây giống các loài hoang dã; nghiêm cấm săn bắn hoặc đánh bắt các loài hoang dã và các hoạt động khác làm hại đến đời sống và sinh sản của các loài hoang dã trong các khu bảo tồn và các khu vực gần khu săn bắt và trong các mùa gần mùa săn bắn... Bất cứ ai đánh bắt hoặc giết hại bất hợp pháp các loài hoang dã thuộc danh mục bảo vệ của Nhà nước sẽ bị khởi tố trách nhiệm hình sự [22]. Năm là tiếp cận nguồn gen và chia sẻ lợi ích (kinh nghiệm của Costa Rica): Luật ĐDSH Costa Rica năm 1998, quy định Nhà nước xây dựng các chính sách tiếp cận các nguồn gen và hoá chất sinh học của ĐDSH được bảo tồn nội vi hay ngoại vi. Các chính sách này sẽ đưa ra các quy định chung về việc tiếp cận các nguồn gen và hoá chất sinh học nhằm bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ liên quan đến ĐDSH. Các yêu cầu cơ bản trong việc tiếp cận là: Sự đồng ý trước của đại diện nơi tiếp cận; Sự đồng ý nói trên phải được thông qua bởi Văn phòng Kỹ thuật của Uỷ ban; Các điều khoản
  25. 25. 19 chuyển giao công nghệ và phân phối công bằng lợi nhuận nếu có; Xác định đóng góp của những hoạt động nói trên đối với việc bảo tồn các loài và hệ sinh thái; Sự uỷ quyền cho một công dân đại diện hợp pháp trong nước nếu việc tiếp cận liên quan đến những thể nhân sống ở nước ngoài. [18], [22] 1.2.3.2 Bài học rút ra, kinh nghiệm cho Việt Nam Một là đối với việc quy hoạch BTTN: Quy định việc xây dựng và nội dung quy hoạch tổng thể BTTN hoặc quy hoạch ĐDSH quốc gia; Trách nhiệm lập và phê duyệt quy hoạch BTTN hoặc ĐDSH của các ngành liên quan; Các định hướng trung hạn và dài hạn cho việc thành lập các khu bảo tồn, các hành lang sinh thái và các hệ thống, các khu nhạy cảm môi trường; Các nguyên tắc thành lập và hoạt động của các hệ thống quan trắc, thu thập dữ liệu, đăng ký và đánh giá các giá trị thiên nhiên; Xây dựng các kế hoạch vùng và kế hoạch quản lý ĐDSH; Xác định các lĩnh vực và đối tượng ưu tiên cho bảo tồn; Quy định cơ chế phối hợp liên ngành để thực hiện các kế hoạch trên; Xây dựng cơ chế đánh giá kinh tế ĐDSH và lồng ghép nó vào lợi ích quốc gia; Khuyến khích sự tham gia của các cơ quan trung ương và địa phương vào các chương trình, kế hoạch quản lý bảo tồn ĐDSH; Tổ chức thực hiện các kế hoạch, quy hoạch BTTN hoặc ĐDSH [22]. Hai là đối với việc thành lập và quản lý các khu bảo tồn: Tuỳ thuộc vào điều kiện thiên nhiên và nhu cầu khác nhau, nên các nước đã thành lập hệ thống phân loại các khu bảo tồn khác nhau. Tuy nhiên, khu bảo tồn của các nước đều có những loại chung, bao gồm: khu dữ trữ sinh quyển, khu bảo vệ thiên nhiên, khu di sản thiên nhiên, khu bảo vệ cảnh quan và vườn quốc gia. Cũng như các nước, Luật ĐDSH của Việt Nam cần quy định về việc phân loại, tiêu chí và thành lập các khu bảo tồn thiên nhiên; xác định ranh giới và phân khu chức năng trong khu bảo tồn; ban quản lý khu bảo tồn và quy chế quản lý khu bảo tồn; quy trình, thủ tục thành lập khu bảo tồn; cơ chế hỗ trợ cộng đồng xung quanh và vùng lân cận khu bảo tồn; Quy định cấp phép cho các hoạt động trong khu bảo tồn; mối quan hệ giữa các khu bảo tồn (quốc gia và địa phương) để tránh sự mâu thuẫn và trùng lặp về
  26. 26. 20 các biện pháp bảo vệ và quản lý; xây dựng kế hoạch quản lý và cơ chế quản lý và bảo vệ chung [22]. Ba là đối với việc quản lý HST và vùng sinh thái: Để quản lý và bảo tồn các HST, kinh nghiệm của các nước cho thấy, cần quy định việc kết hợp cảnh quan vào các công trình mới đối với các khu định cư bên ngoài các khu BTTN, nhằm hài hoà chức năng và thẩm mỹ với các giá trị thiên nhiên và môi trường nhân tạo; Quy định việc xây dựng quy hoạch cảnh quan đối với các khu vực cần bảo vệ và đánh giá tác động môi trường; Lập danh mục các hệ sinh thái bị đe dọa và các HST cần được bảo vệ; Trong xây dựng và quản lý, các ngành cần ưu tiên áp dụng các kỹ thuật thân thiện với môi trường và ĐDSH [22]. Bốn là đối với việc bảo tồn và phát triển bền vững các loài sinh vật: Các đối tượng cần quản lý và bảo vệ là các loài động vật, thực vật hoang dã quý hiếm, bị đe doạ hoặc các loài thuộc danh mục Sách Đỏ và nguồn gen của chúng; các loài cây trồng, vật nuôi có giá trị kinh tế, các loài bản địa và nguồn gen của chúng. Để quản lý và bảo vệ tốt các loài sinh vật, cần phân loại các loài sinh vật theo mức độ bị đe doạ (theo Sách Đỏ); xây dựng danh mục các loài quý hiếm, các loài bị đe doạ (nguy cấp) và các loài cần được bảo vệ; xây dựng và thực hiện các chương trình bảo vệ và phát triển các loài thuộc danh mục cần bảo vệ; quy định về tiêu chuẩn bảo vệ các loài; kiểm soát việc sử dụng, khai thác, vận chuyển, xuất khẩu, nhập khẩu, buôn bán và trao đổi các loài động vật, thực vật và các bộ phận của các loài hoang dã quý hiếm, bị đe dọa hoặc thuộc danh mục cần bảo vệ; quản lý các công cụ và biện pháp săn bắn và đánh bắt các loài hoang dã; Nhân giống và nuôi nhốt các loài động vật hoang dã quý hiếm; quản lý việc sử dụng các loài sinh vật cho mục đích nghiên cứu khoa học, văn hoá, giáo dục và mỹ học; bảo vệ và phát triển các giống cây trồng, vật nuôi bản địa và tạo các nguồn gen mới; kiểm soát việc nhập nội các nguồn gen không phải là bản địa; thành lập và quản lý các ngân hàng gen của các loài động vật, thực vật hoang dã quý hiếm và các loài cần bảo vệ, các loài cây trồng, vật nuôi bản địa, các loài có giá trị kinh tế; quản lý việc cấp phép và sử dụng giấy phép săn bắn, đánh bắt, thuần dưỡng,
  27. 27. 21 gây giống, xuất khẩu, nhập khẩu, du nhập hoặc tái du nhập và sử dụng các loài hoang dã; quy định trả phí sử dụng tài nguyên hoang dã để bảo vệ và quản lý chúng; bảo tồn nội vi, bảo tồn ngoại vi [22]. Năm là đối với việc tiếp cận nguồn gen và chia sẻ lợi ích: Một trong những mục tiêu của Công ước Đa dạng sinh học là sự chia sẻ công bằng và hợp lý các lợi ích có được từ việc khai thác và sử dụng các nguồn tài nguyên di truyền (nguồn gen) thông qua việc tiếp cận các nguồn gen, chuyển giao hợp lý các công nghệ liên quan đến nguồn gen, công nhận các quyền sở hữu các nguồn gen, công nghệ gen và các tài trợ thích đáng. Để thực hiện nghĩa vụ và trách nhiệm của một nước tham gia Công ước, cũng như các nước khác, Luật ĐDSH của Việt Nam cần chú ý các vấn đề sau: Công nhận các quyền sở hữu và các trách nhiệm đối với các nguồn gen; xây dựng cơ chế khuyến khích việc sử dụng tri thức và công nghệ truyền thống, bảo đảm cộng đồng có quyền tiếp cận và sử dụng hợp lý các nguồn gen, bảo vệ tri thức truyền thống và công nghệ do họ quản lý; quy định những người tiếp cận và thu thập hoặc thăm dò sinh học với mục đích thương mại phải trả phí và chia sẻ công bằng và hợp lý các lợi ích về việc chuyển giao công nghệ và chia sẻ kiến thức và khoa học; quy định quyền trao đổi các nguồn gen và vật liệu di truyền; cấp phép đối với việc tiếp cận các nguồn gen [22]. Kết luận Chƣơng 1: Như vậy, Chương 1 của Luận văn đã nêu ra khái niệm về ĐDSH, bảo tồn ĐDSH, pháp luật về bảo tồn ĐDSH cùng với việc nêu ra lịch sử hình thành và phát triển của pháp luật bảo tồn ĐDSH của Việt Nam cũng như kinh nghiệm quốc tế về bảo tồn ĐDSH, từ đó để làm cơ sở lý luận cho việc nghiên cứu, đánh giá về quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành về bảo tồn ĐDSH và thực tiễn áp dụng pháp luật về bảo tồn ĐDSH để nhìn nhận ra những mặt yếu kém và đề ra những phương hướng cho giai đoạn tiếp theo.
  28. 28. 22 Chƣơng 2 THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VỀ BẢO TỒN ĐA DẠNG SINH HỌC VÀ THỰC TIỄN ÁP DỤNG TẠI VƢỜN QUỐC GIA PÙ MÁT, HUYỆN CON CUÔNG, TỈNH NGHỆ AN 2.1. Tổng quan về đa dạng sinh học và bảo tồn đa dạng sinh học tại Việt Nam Viê ̣t Nam được biết đến như là một trung tâm ĐDSH của thế giới với các HST tự nhiên phong phú và đa da ̣ng . Nằm ở vùng Đông Nam châu Á với diện tích khoảng 330.541 km2, Việt Nam là một trong 16 nước có tính đa dạng sinh học cao trên thế giới. Đặc điểm về vị trí địa lý, khí hậu... của Việt Nam đã góp phần tạo nên sự đa dạng về HST và các loài sinh vật. Về mặt địa sinh học, Việt Nam là giao điểm của các hệ động, thực vật thuộc vùng Ấn Độ - Miến Điện, Nam Trung Quốc và Inđo - Malaysia. Các đặc điểm trên đã tạo cho nơi đây trở thành một trong những khu vực có tính ĐDSH cao của thế giới, với khoảng 10% số loài sinh vật, trong khi chỉ chiếm 1% diện tích đất liền của thế giới [24, tr.2]. Đối với Việt Nam nguồn tài nguyên ĐDSH trong các ngành Nông nghiệp , Lâm nghiệp , Thủy sản hàng năm cung cấp cho đất nước khoảng 2 tỷ đô la. Các HST rừng, đất ngâ ̣p nước, biển, núi đá vôi,… với những nét đă ̣c trưng của vùng bán đảo nhiệt đới, là nơi sinh sống và phát triển của nhiều loài hoang dã đă ̣c hữu, có giá trị, trong đó có những loài không tìm thấy ở nơi nào khác trên thế giới . Viê ̣t Nam cũng là nơi được biết đến với nhiều nguồ n gen hoang dã có giá tri ̣, đă ̣c biê ̣t là các cây thuốc , các loài hoa , cây cảnh nhiê ̣t đới ,… Quỹ Bảo tồn động vật hoang dã (WWF) đã công nhận Việt Nam có 3 trong hơn 200 vùng sinh thái toàn cầu; Tổ chức bảo tồn chim quốc tế (Birdlife) công nhận là một trong 5 vùng chim đặc hữu; Tổ chức Bảo tồn thiên nhiên thế giới (IUCN) công nhận có 6 trung tâm đa dạng về thực vật [24. tr2], [9]. Tuy nhiên, hiện nay ĐDSH ở nước ta đang bi ̣suy thoái nhanh . Diê ̣n tích các khu vực có các HST tự nhiên quan trọng bị thu hẹp dần. Số loài và số lượng cá thể của các loài hoang dã bị suy giảm mạnh . Nhiều loài hoang dã có giá tri ̣bi ̣suy giảm hoàn toàn
  29. 29. 23 về số lượng hoă ̣c bi ̣đe dọa tuyê ̣t chủng ở mứ c cao . Các nguồn gen hoang dã cũng đang trên đà suy thoái nhanh và thất thoát nhiều . Suy thoái ĐDSH dẫn đến mất cân bằng sinh thái, ảnh hưởng trực tiếp đến môi trường sống của con người , đe dọa sự phát triển bền vững của đất nước . Nhiều HST và môi trường sống bị thu hẹp diện tích và nhiều Taxon loài và dưới loài đang đứng trước nguy cơ bị tuyệt chủng trong một tương lai gần [24, tr.3]. Những giá trị của ĐDSH lại chưa được nhận thức một cách đầy đủ. Sự khai thác quá mức các giống loài, nguồn gen động thực vật để phục vụ cho các nhu cầu trước mắt của con người, đặc biệt là trong một số năm gần đây đã đẩy nhanh tốc độ suy thoái ĐDSH ở Việt Nam. Một số hiện trạng và diễn biến suy thoái ĐDSH ở nước ta có thể được mô tả như sau [24, tr3 – tr4]: Thứ nhất, hầu hết các HST tự nhiên nước ta hiện đang phải chịu sức ép nặng nề từ các hoạt động phát triển kinh tế. HST rừng tự nhiên có nhiều biến động lớn trong hơn nửa thế kỷ qua. Độ che phủ rừng tăng nhưng phần lớn diện tích tăng là rừng trồng, nếu tính về giá trị ĐDSH thì cao. Hầu hết các vùng tự nhiên còn lại đều đang bị xuống cấp nghiêm trọng. Diện tích rừng nguyên sinh chưa bị tác động chỉ còn tồn tại trong các vùng rừng nhỏ, rời rạc tại các khu vực núi cao của miền Bắc và Tây Nguyên. Đây là mối đe doạ lớn đối với các cấu thành ĐDSH của rừng bao gồm cả các loài thực vật và động vật phụ thuộc vào rừng. Thứ hai, xu hướng quần thể của rất nhiều loài thực vật đang suy giảm, càng ngày càng có nhiều loài hơn phải đối mặt với nguy cơ tuyệt chủng. Hoạt động buôn bán động thực vật hoang dã chưa giảm bớt cũng là một trong những nguyên nhân tác động xấu tới số lượng các loài trong tự nhiên. Thứ ba, HST nông nghiệp và giống cây trồng, vật nuôi bị ảnh hưởng. Các giống cây trồng mới có năng suất cao ngày càng được đưa nhiều vào sản xuất và chiếm diện tích ngày càng lớn. Do đó các giống địa phương ngày càng bị thu hẹp diện tích, vì vậy nhiều nguồn gen quý của địa phương, đặc biệt là các nguồn gen chống chịu sâu bệnh bị mai một.
  30. 30. 24 Thứ tư, trong những năm gần đây, việc khai thác và sử dụng đất ngập nước diễn ra một cách ồ ạt thiếu quy hoạch, nhiều diện tích rừng ngập mặn và các vùng đất ngập nước khác bị chuyển thành đất canh tác nông nghiệp hoặc nuôi trồng thuỷ sản, làm cho diện tích đất ngập nước bị thu hẹp, tài nguyên suy giảm, kéo theo đó là các tai biến xói lở, bồi tụ và môi trường bị ô nhiễm nghiêm trọng. Diện tích đầm nuôi tôm tăng dần theo thời gian thì diện tích rừng ngập mặn cũng giảm dần tương ứng. Trước đây, rừng ngập mặn trải dài suốt dọc bờ biển, nhưng hiện nay diện tích này đã giảm đi rất nhiều, gây suy thoái hệ sinh thái rừng ngập mặn làm thiệt hại không nhỏ cho vùng đất ngập nước ven biển và cho các ngành kinh tế quan trọng trong khu vực. Thứ năm, ĐDSH biển bị khai thác quá mức. Nguồn lợi hải sản suy giảm nhanh: trữ lượng hải sản của Việt Nam năm 2003 là 3.072.800 tấn, giảm 25% so với năm 1990 (4,1 triệu tấn). Nhiều loài tôm, cá kinh tế đã bị giảm sút cả về số lượng lẫn chất lượng, thay vào đó thành phần cá tạp trong sản lượng tăng lên. Danh sách các loài thuỷ hải sản bị đe doạ, có nguy cơ tuyệt chủng tăng từ 15 loài, năm 1989, lên 135 loài vào năm 1996. Các rạn san hô đang suy giảm về độ phủ. Hầu hết các rạn san hô đang bị đe doạ, trong đó có 50% ở mức bị đe doạ cao và 17% ở mức bị đe doạ rất cao. Khai thác quá mức đang bị đánh giá là mối đe doạ lớn cho khoảng một nửa số rạn san hô. Có nhiều nơi độ phủ giảm đến trên 30%. Điều này cho thấy rằng rạn san hô đang bị phá huỷ và có chiều hướng suy thoái. Thứ sáu, hiện nay, nguồn gen (cây trồng, vật nuôi và cây thuốc) đang được các cơ quan, tổ chức trong nước, quốc tế nghiên cứu, thu thập, khai thác và phát triển thành thương phẩm có giá trị kinh tế. Tuy nhiên, trong phần lớn trường hợp, chưa có sự chia sẻ lợi ích giữa người sở hữu và người khai thác, sử dụng nguồn gen, cũng như chia sẻ một phần lợi nhuận thu được để góp phần duy trì và phát triển tài nguyên. Tri thức bản địa ở nước ta rất phong phú. Tri thức bản địa đã được thừa nhận như một nguồn tài nguyên quan trọng không kém các nguồn tài nguyên hữu hình khác. Tuy nhiên, tri thức bản địa cũng đang bị mất mát nhiều theo thời gian do chưa ý thức được tầm quan trọng
  31. 31. 25 của nguồn tài nguyên này. Ngoài ra, cũng như nguồn gen, việc chia sẻ lợi ích giữa người sở hữu và người khai thác, sử dụng tri thức bản địa không lúc nào cũng được thực hiện một cách công bằng. Để bảo tồn tri thức bản địa cần có sự phối hợp giữa người dân, nhà nước và các nhà khoa học. Việc xây dựng các chính sách khai thác, phát triển và chia sẻ lợi ích nguồn gen và tri thức bản địa chưa được quan tâm đúng mức [33]. Các nguyên nhân gây suy thoái ĐDSH: Chuyển đổi mục đích sử dụng đất thiếu quy hoạch; khai thác và sử dụng không bền vững tài nguyên sinh học; các loài sinh vật ngoại lai xâm hại; ô nhiễm môi trường; cháy rừng; thiên tai; quản lý còn nhiều bất cập. Như vậy, có thể thấy có nhiều nguyên nhân khác nhau làm cho nguồn tài nguồn tài nguyên ĐDSH của Việt Nam đã và đang bị suy giảm. Trong đó, nguyên do cơ bản nhất là ĐDSH luôn thay đổi cùng sự tiến hoá của sinh vật trong quá trình hình thành loài mới, trong sự tham gia vào hoặc sự mất đi của một loài. Nguyên nhân gây ra các biến đổi đó là do sự biến đổi bất thường của tự nhiên hoặc do hoạt động của con người [9, tr7 –tr14]. Để khắc phục tình trạng trên Chính phủ Việt Nam đã đề ra nhiều biện pháp, cùng với các chính sách kèm theo nhằm bảo vệ tốt hơn tài nguyên ĐDSH của đất nước. Hai hình thức bảo tồn ĐDSH phổ biến được áp dụng ở Việt Nam là: Bảo tồn nội vi hay nguyên vị (Insitu conservation) và bảo tồn ngoại vi hay chuyển vị (Exsitu conservation). Tuy nhiên, thực tế đang đặt ra nhiều vấn đề liên quan đến bảo tồn ĐDSH cần phải giải quyết như quan hệ giữa bảo tồn và phát triển bền vững hoặc tác động của biến đổi khí hậu đối với bảo tồn ĐDSH,…[42]. Trước khi Luật ĐDSH được ban hành năm 2008, một trong những nguyên nhân chính dẫn đến tình trạng trên là do còn nhiều tồn tại, bất cập trong các quy định của pháp luật về ĐDSH gây ra nhiều khó khăn trong quản lý, bảo tồn và phát triển ĐDSH. Sau khi Luật này được ban hành, có hiệu lực vào ngày 01/07/2009, hệ thống pháp luật về ĐDSH đã được thống nhất, quy về một mối. Tuy nhiên, nhận thức được bảo tồn ĐDSH là vấn đề phức tạp với nhiều
  32. 32. 26 nội dung khác nhau (nhất là trong điều kiện Luật mới ban hành) nên việc đánh giá hệ thống văn bản quy phạm pháp luật về vấn đề này cũng như hiệu quả áp dụng, thi hành trong giai đoạn hiện nay là một điều cần thiết để hoàn thiện các quy định cũng như đẩy mạnh việc thực thi trong thực tế. 2.2 Sơ lƣợc lịch sử hình thành và phát triển của pháp luật bảo tồn đa dạng sinh học tại Việt Nam 2.2.1 Tổng quan pháp luật về bảo tồn đa dạng sinh học của Việt Nam trước khi ban hành Luật đa dạng sinh học năm 2008 Tại Việt Nam, các quy định về bảo vệ ĐDSH được hình thành khá sớm. Sắc lệnh số 142/SL do Chủ tịch Hồ Chí Minh ký ngày 21/12/1949 quy định việc kiểm soát lập biên bản các hành vi vi phạm pháp luật bảo vệ rừng có thể coi là văn bản pháp luật đầu tiên đề cập đến vấn đề này [24, tr.6]. Tiếp đến, vào những năm 60, 70 các quy định về bảo vệ ĐDSH có thể được tìm thấy trong các văn bản pháp luật của Chính phủ về thành lập các Vườn Quốc gia; quy chế săn bắn chim, thú hoang dã; công tác trồng cây gây rừng…Song, do nhận thức chung của con người lúc bấy giờ mới chỉ quan tâm đến nguồn tài nguyên rừng mà chưa coi trọng đến các nguồn tài nguyên khác như tài nguyên sinh vật biển, tài nguyên nông nghiệp, nguồn gen…nên hầu hết các văn bản pháp luật vào thời điểm này mới chỉ đề cập đến việc bảo vệ động, thực vật rừng. Đến những năm 90, một loạt văn bản có hiệu lực pháp lý cao chứa đựng các quy định về bảo vệ đa dạng tài nguyên rừng và các nguồn tài nguyên khác đã được ban hành, như Pháp lệnh BV&PT nguồn lợi thủy sản (1989), Luật BV&PT rừng (1991), Luật bảo vệ môi trường (1993), Pháp lệnh thú y (1993), Pháp lệnh bảo vệ và kiểm dịch thực vật (1993)…Tuy nhiên, nhận thức đầy đủ về tầm quan trọng, sự cần thiết phải bảo vệ tính đa dạng của các nguồn tài nguyên sinh học chỉ thực sự được đánh dấu kể từ thời điểm Việt Nam phê chuẩn Công ước quốc tế về ĐDSH (16/11/1994). Đây được xem là tiền đề quan trọng cho việc phát triển lĩnh vực pháp luật về ĐDSH với tư cách là một
  33. 33. 27 bộ phận quan trọng của pháp luật môi trường. Kể từ thời điểm này, các quy định pháp luật về bảo vệ ĐDSH được ban hành ngày càng nhiều, theo hướng hoàn thiện hơn, như : Kế hoạch hành động bảo vệ ĐDSH Quốc gia (ban hành kèm theo Quyết định của Thủ tướng Chính phủ số 845/TTG ngày 22/12/195); Nghị định số 109/2003/NĐ-CP về quản lý, bảo tồn và phát triển các vùng đất ngập nước; Luật Thủy sản (2003) thay thế Pháp lệnh bảo vệ và phát triển nguồn lợi thủy sản năm 1989); Luật bảo vệ và phát triển rừng (2004) (thay thế Luật bảo vệ và phát triển rừng 1991); Pháp lệnh về giống cây trồng (2004); Pháp lệnh về giống vật nuôi (2004) thay thế Pháp lệnh về giống cây trồng, vật nuôi (1993); Quy chế quản lý an toàn sinh học đối với các sinh vật biến đổi gen, sản phẩm hàng hóa có nguồn gốc từ sinh vật biến đổi gen (kèm theo Quyết định số 212/2005/QĐ-TTg ngày 26/8/2005 của Thủ tướng Chính phủ), Luật bảo vệ môi trường (2005) (thay thế Luật bảo vệ môi trường 1993)… Như vậy có thể thấy, trước khi Luật ĐDSH năm 2008 được ban hành, vấn đề bảo tồn ĐDSH được quy định trong nhiều lĩnh vực khác nhau, trong đó pháp luật môi trường đề cập đến bảo tồn ĐDSH ở mức độ bao trùm, khái quát nhất. Căn cứ vào những tiêu chí chung để đánh giá mức độ hoàn thiện của pháp luật, có thể thấy một số điểm hạn chế, bất cập của pháp luật hiện hành về ĐDSH tại Việt Nam trước khi Luật ĐDSH được ban hành như sau: Thứ nhất, các quy định pháp luật về bảo tồn ĐDSH còn tản mạn và hiệu quả điều chỉnh trên thực tế chưa cao, nên suy thoái ĐDSH vẫn đang là vấn đề nhức nhối trong sự nghiệp bảo vệ môi trường ở nước ta. Vấn đề bảo tồn ĐDSH thời kỳ này được quy định tản mạn ở rất nhiều văn bản pháp luật thuộc nhiều lĩnh vực khác nhau, nhưng chủ yếu tập trung trong các văn bản pháp luật về BV&PT rừng, về BV&PT nguồn lợi thuỷ sản, bảo vệ và kiểm dịch thực vật, quản lý và bảo hộ giống cây trồng và bảo vệ môi trường. Tuy nhiên, nội dung bảo tồn ĐDSH chỉ là một nội dung nhỏ trong những văn bản đó và mỗi văn bản tiếp cận vấn đề bảo tồn ĐDSH theo một góc độ khác nhau, do đó có thể thấy các quy định về
  34. 34. 28 bảo tồn ĐDSH còn tản mạn và hiệu quả điều chỉnh trên thực tế chưa cao[34]. Có thể thấy một số quy định pháp luật về bảo tồn ĐDSH còn mang tính tuyên ngôn hay ở mức chung chung, thiếu tính cụ thể, không có tính khả thi, nhiều quy định mang tính định hướng nên khó áp dụng trên thực tế. Các quy định không được pháp điển hóa trong một văn bản pháp lý có hiệu lực cao, đặc biệt là các vấn đề liên quan đến các nội dung chính của ĐDSH đã làm hạn chế rất nhiều đến hiệu quả áp dụng pháp luật. Bên cạnh đó, các quy định về bảo tồn gen, kiến thức bản địa, di truyền cây thuốc,... còn mờ nhạt. Thứ hai, pháp luật về ĐDSH thời kỳ này chưa đảm bảo tính thống nhất. Thứ ba, pháp luật về ĐDSH thời kỳ này còn chưa hoàn thiện, thiếu một số quy định quan trọng. Cụ thể: thiếu các quy định về cơ chế tiếp cận nguồn gen và chia sẻ lợi ích, quyền đối với tri thức truyền thống của cộng đồng, các quy định về cơ chế kiểm soát các sinh vật lạ xâm hại, các quy định về hình thức bảo tồn ngoại vi,...; các quy định về bảo tồn các loài hoang dã hầu như mới chỉ được đề cập trong các văn bản pháp luật về bảo vệ và phát triển rừng mà chưa được đề cập trong các lĩnh vực pháp luật khác [24, tr.6–tr.7]. 2.2.2 Tổng quan pháp luật về bảo tồn đa dạng sinh học của Việt Nam sau khi ban hành Luật đa dạng sinh học năm 2008 Như đã phân tích ở phần trên, hệ thống pháp luật về bảo tồn ĐDSH của Việt Nam trong một thời gian dài đã thể hiện những bất cập lớn, chưa đảm bảo tính đồng bộ, thống nhất,... nên hiệu quả áp dụng chưa cao, dẫn đến việc bảo tồn ĐDSH còn hạn chế, chưa duy trì và phát triển được hệ thống bảo tồn ĐDSH cũng như tính đa dạng trong hệ thống ĐDSH của quốc gia. Bên cạnh đó, các điều ước quốc tế mà Việt Nam đã ký kết hoặc tham gia vẫn chưa được nội luật hóa hoàn toàn vào hệ thống pháp luật trong nước. Với những đòi hỏi về mặt lý luận cũng như thực tiễn như vậy, để hoàn thiện hệ thống pháp luật về ĐDSH, luật hóa có hệ thống và thống nhất các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước, thực hiện các cam kết quốc tế về ĐDSH phục vụ mục tiêu phát triển bền vững đất nước, Luật ĐDSH được Quốc hội nước ta ban hành
  35. 35. 29 ngày 13 tháng 11 năm 2008 đã tạo nên một hành lang pháp lý thống nhất điều chỉnh việc bảo tồn và phát triển bền vững ĐDSH, đáp ứng được nhu cầu cấp bách của hoạt động bảo tồn ĐDSH hiện hay và trong tương lai [24, tr7]. Luật ĐDSH bao gồm 8 chương với 78 điều luật quy định các vấn đề cơ bản nhất của việc bảo tồn và phát triển ĐDSH; quyền và nghĩa vụ của tổ chức, hộ gia đình, cá nhân trong bảo tồn và phát triển bền vững ĐDSH. Luật ĐDSH năm 2008 được ban hành đã đánh dấu một bước phát triển lớn của hệ thống pháp luật trong lĩnh vực tài nguyên và môi trường[9]. Luật đã hoàn thành nhiệm vụ pháp điển hóa các quy định về bảo vệ ĐDSH được đề cập rải rác trong nhiều lĩnh vực pháp lý thành một lĩnh vực pháp lý cụ thể, độc lập, hỗ trợ và tạo thế cân bằng với lĩnh vực pháp luật về kiểm soát ô nhiễm môi trường. Có thể nhận thấy một số điểm sau: Một là Luật ĐDSH (có hiệu lực từ ngày 01/07/2009) là văn bản đầu tiên và có hiệu lực pháp lý cao nhất trong việc bảo tồn và phát triển bền vững ĐDSH trong thời điểm hiện nay. Hai là Luật ĐDSH năm 2008 là nền tảng cơ bản về mặt pháp lý cho công tác bảo tồn ở nước ta. Ba là Luật ĐDSH năm 2008 tập trung điều chỉnh các vấn đề: quy hoạch bảo tồn ĐDSH; bảo tồn và phát triển bền vững các loài sinh vật; bảo tồn và phát triển bền vững tài nguyên di truyền; hợp tác quốc tế về ĐDSH; cơ chế, nguồn lực bảo tồn và phát triển bền vững ĐDSH [24, tr8]. Bên cạnh Luật ĐDSH năm 2008, Chính phủ và các Bộ ngành đã xây dựng một hệ thống văn bản pháp luật liên quan, bao gồm: Nghị định 65/2010/NĐ-CP ngày 11/6/2010 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật ĐDSH ; Nghị định 32/2006/NĐ-CP ngày 30/03/2006 của Chính phủ về quản lý thực vật rừng, động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm; Nghị định 82/2006/NĐ-CP ngày 10/08/2006 của Chính phủ về quản lý hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu, tái xuất, nhập nội từ biển, quá cảnh, nuôi sinh sản, nuôi sinh trưởng và trồng cấy nhân tạo các loài động vật, thực vật hoang dã
  36. 36. 30 nguy cấp, quý, hiếm; Nghị định số 160/2013/NĐ-CP ngày 12/11/2013 của Chính phủ về tiêu chí xác định loài và chế độ quản lý loài thuộc Danh mục loài nguy cấp, quý, hiếm được ưu tiên bảo vệ; Danh mục các loài thủy sinh quý hiếm có nguy cơ tuyệt chủng ở Việt Nam cần được bảo vệ, phục hồi và phát triển và Danh mục những đối tượng bị cấm khai thác theo quy định của Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn; Quyết định số 95/2008/QĐ-BNN ngày 29/09/2008 về việc ban hành Quy chế quản lý gấu nuôi; Thông tư số 47/2012/TT-BNNPTNT ngày 25/09/2012 của Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn về quản lý khai thác từ tự nhiên và nuôi động vật rừng thông thường; Thông tư Liên tịch số 19/2007/TTLT/BNN&PTNT-BTP-BCA-VKSNDTC- TANDTC ngày 08/03/2007 hướng dẫn áp dụng một số điều của Bộ luật Hình sự về các tội phạm trong lĩnh vực quản lý rừng, bảo vệ rừng và quản lý lâm sản; Nghị định số 103/2013/NĐ-CP ngày 12 tháng 09 năm 2013 Quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong hoạt động thủy sản; Nghị định số 157/2013/NĐ-CP ngày 11/11/2013 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính về quản lý rừng, phát triển rừng, bảo vệ rừng và quản lý lâm sản; Nghị định số 179/2013/NĐ-CP ngày 14/11/2013 của Chính phủ quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo vệ môi trường [24, tr8– tr9]… Ngoài các Luật và văn bản dưới Luật đã được đề cập ở trên, trong thời gian qua không thể không kể đến Quyết định số 79/2007/QĐ-TTg ngày 31/05/2007 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt “Kế hoạch hành động Quốc gia về ĐDSH đến năm 2020 thực hiện Công ước ĐDSH và Nghị định thư Cartagena về An toàn sinh học” (Gọi tắt là Kế hoạch 79). Ở thời điểm năm 2007, đây là văn bản có tính tổng thể nhất về ĐDSH với nhiều mục tiêu, chỉ tiêu được đặt ra cho đến năm 2010 [7, tr.52]. Và mới đây nhất, vào ngày 31/7/2013, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 1250/QĐ-TTg phê duyệt Chiến lược đa dạng sinh học quốc gia đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030 đã đưa ra những mục tiêu, nhiệm vụ, biện pháp cụ thể để thực hiện việc bảo tồn ĐDSH.
  37. 37. 31 2.3 Những nội dung cơ bản của pháp luật bảo tồn đa dạng sinh học 2.3.1 Những quy định chung về nguyên tắc và trách nhiệm bảo tồn đa dạng sinh học Có thể thấy những nguyên tắc, những quy định chung về ĐDSH được đề cập trong rất nhiều văn bản pháp luật. Cụ thể : Luật BVMT năm 2005 đưa ra định nghĩa về khái niệm ĐDSH tại Điều 3, đồng thời đưa ra một số nguyên tắc chung về bảo tồn ĐDSH như: Việc bảo vệ ĐDSH phải được thực hiện trên cơ sở bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của cộng đồng dân cư địa phương và các đối tượng có liên quan…[29, Điều 30] Luật BVMT năm 2005 cũng nêu ra những hành vi bị nghiêm cấm liên quan đến bảo tồn ĐDSH: Phá hoại, khai thác trái phép rừng, tài nguyên thiên nhiên; Khai thác, đánh bắt các nguồn tài nguyên sinh vật bằng phương pháp hủy diệt, không đúng thời vụ và sản lượng quy định; Khai thác, kinh doanh, tiêu thụ, sử dụng các loài thực vật, động vật quý hiếm thuộc Danh mục do cơ quan Nhà nước có thẩm quyền quy định phải được bảo vệ hoặc có tên trong “Sách Đỏ Việt Nam’’; Nhập khẩu, quá cảnh động vật, thực vật và vi sinh vật chưa qua kiểm dịch; Xâm hại cảnh quan môi trường, khu bảo tồn thiên nhiên, vườn quốc gia, di sản tự nhiên” [29, Điều 8]. Luật BV&PT rừng năm 2004 quy định bảo vệ rừng là trách nhiệm của mọi cơ quan, tổ chức, hộ gia đình, cá nhân. Hoạt động BV&PT rừng phải đảm bảo nguyên tắc quản lý rừng bền vững; kết hợp BV&PT rừng với khai thác hợp lý để phát huy hiệu quả tài nguyên rừng; kết hợp chặt chẽ giữa trồng rừng, khoanh nuôi tái sinh phục hồi rừng, làm giàu rừng với bảo vệ diện tích rừng hiện có; kết hợp lâm nghiệp với nông nghiệp và ngư nghiệp; đẩy mạnh trồng rừng kinh tế gắn với phát triển công nghiệp chế biến lâm sản nhằm nâng cao giá trị sản phẩm rừng [26, Điều 9]. Luật Thủy sản năm 2003 nêu ra nguyên tắc: Bảo đảm hiệu quả kinh tế gắn với bảo vệ, tái tạo và phát triển nguồn lợi thủy sản, tính ĐDSH; bảo vệ môi trường và cảnh quan thiên nhiên [25, Điều 3].
  38. 38. 32 Việc bảo tồn và khai thác bền vững các vùng đất ngập nước được quy định tại Nghị định số 109/2003/NĐ-CP ngày 23/9/2003 phải tuân theo các nguyên tắc: Bảo vệ nghiêm ngặt các khu vực đất ngập nước được Nhà nước khoanh vùng cho mục đích bảo tồn; kết hợp sử dụng, khai thác với bảo tồn, ưu tiên bảo tồn đối với các vùng đất ngập nước có hệ sinh thái đặc thù, ĐDSH cao, có chức năng duy trì nguồn nước và cân bằng sinh thái, có tầm quan trọng quốc tế, quốc gia; tăng cường sự tham gia bảo tồn các vùng đất ngập nước của cộng đồng dân cư sinh sống trên địa bàn và các khu vực lân cận [11]. Luật ĐDSH năm 2008 cũng nêu ra những nguyên tắc đối với việc bảo tồn và phát triển bền vững đa da ̣ng sinh học , theo đó: Bảo tồn đa dạng sinh học là trách nhiệm của Nhà nước và mọi tổ chức, cá nhân, bảo tồn ĐDSH dựa trên nguyên tắc kết hợp hài hòa giữa bảo tồn với khai thác , sử dụng hợp lý đa da ̣ng sinh học ; giữa bảo tồn, khai thác, sử dụng hợp lý đa dạng sinh học với việc xóa đói, giảm nghèo; Bảo tồn tại chỗ là chính, kết hợp bảo tồn tại chỗ với bảo tồn chuyển chỗ. [30, Điều 4] Luật ĐDSH năm 2008 quy định 9 nhóm hành vi bị nghiêm cấm áp dụng đối với cá nhân, cơ quan, tổ chức có hoạt động trực tiếp hoặc liên quan đến đa dạng sinh học ở Việt Nam [30, Điều 7]. Chế tài xử lý người có hành vi vi phạm các quy định này được quy định trong Nghị định về xử phạt vi phạm hành chính hoặc bị xử lý theo quy định của Bộ luật hình sự nếu đủ yếu tố cấu thành tội phạm. Như vậy, nguyên tắc và trách nhiệm bảo tồn ĐDSH được quy định tương đối rõ trong các văn bản pháp luật khác nhau, tuy nhiên các quy định tương đối thống nhất, theo đó trách nhiệm bảo tồn ĐDSH thuộc về Nhà nước, các tổ chức và cá nhân, việc bảo tồn ĐDSH dựa trên nguyên tắc kết hợp hài hòa giữa bảo tồn và sử dụng, khai thác, đồng thời quy định đối với các hành vi bị cấm liên quan đến hoạt động bảo tồn ĐDSH cùng các chế tài xử lý. Tuy nhiên trong một số Luật của Việt Nam kể cả Luật ĐDSH năm 2008 có rất nhiều điều khoản nặng về cấm đoán. Thực ra việc cấm đoán có tính khả thi hay không chính là do ý thức tuân thủ của người dân cùng với kỹ năng quản lý
  39. 39. 33 của cán bộ công quyền. Vì vậy Luật phải mang tính hài hòa giữa nghĩa vụ và quyền lợi của các bên liên quan. 2.3.2 Các quy định pháp luật về quy hoạch và quản lý các khu bảo tồn thiên nhiên Bảo tồn ĐDSH là việc bảo vệ sự phong phú của các HST tự nhiên quan trọng, đặc thù hoặc đại diện; bảo vệ môi trường sống tự nhiên thường xuyên hoặc theo mùa của loài hoang dã, cảnh quan môi trường, nét đẹp độc đáo của tự nhiên; nuôi, trồng, chăm sóc loài thuộc danh mục loài nguy cấp, quý, hiếm được ưu tiên bảo vệ; lưu giữ và bảo quản lâu dài các mẫu vật di truyền. Nhà nước công bố các khu BTTN để bảo tồn ĐDSH. Hệ thống các khu bảo tồn của Việt Nam hiện nay có 211 khu, bao gồm: 128 khu bảo tồn rừng (Khu rừng đặc dụng), 15 khu bảo tồn biển, 68 khu bảo tồn đất ngập nước [40]. Khu BTTN là khu vực địa lý được xác lập ranh giới và phân khu chức năng để bảo tồn ĐDSH. Căn cứ vào mức độ ĐDSH, giá trị ĐDSH, quy mô diện tích, khu BTTN được phân cấp thành khu bảo tồn cấp quốc gia và khu bảo tồn cấp tỉnh. Chính phủ phân công cơ quan quản lý nhà nước lập dự án thành lập khu BTTN. Luật ĐDSH năm 2008 đã có quy định chặt chẽ hơn về việc thành lập khu bảo tồn [40]. Trước hết, dự án thành lập khu bảo tồn phải nêu rõ mục đích bảo tồn ĐDSH , việc đáp ứng các tiêu chí cụ thể để thành lập khu bảo tồn, thực trạng các HST tự nhiên, các loài thuộc Danh mục các loài được ưu tiên bảo vệ, các loài hoang dã khác , cảnh quan môi trường, nét đẹp độc đáo của tự nhiên, diện tích và hiện trạng sử dụng đất, mặt nước, đất ở và dân cư sinh sống hợp pháp trong khu bảo tồn và phương án chuyển đổi mục đích sử dụng đất , kế hoạch quản lý khu bảo tồn, vị trí, ranh giới, diện tích vùng đệm của nơi dự kiến thành lập khu bảo tồn. Khu bảo tồn dự định thành lập phải có quy hoạch chi tiết, bao gồm: vị trí và diện tích phân khu bảo vệ nghiêm ngặt, phân khu phục hồi HST, phân khu dịch vụ - hành chính; dự kiến ranh giới từng phân khu và toàn khu bảo tồn ; phương án ổn định hoặc di chuyển các hộ gia đình , cá nhân hiện đang
  40. 40. 34 sinh sống trong khu bảo tồn. Khu bảo tồn phải có 2 phân khu chức năng: phân khu bảo vệ nghiêm ngặt và phân khu phục hồi sinh thái, tuỳ theo điều kiện thực tế, khu bảo tồn có thể có thêm phân khu dịch vụ - hành chính [30, Điều 21]. Hồ sơ, trình tự, thủ tục lập, thẩm định và quyết định thành lập khu bảo tồn cấp quốc gia và cấp tỉnh theo quy định tại Điều 22, 23, 24 của Luật ĐDSH năm 2008. Thủ tướng Chính phủ quyết định thành lập khu bảo tồn cấp quốc gia, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quyết định thành lập khu bảo tồn cấp tỉnh sau khi có ý kiến của Ủy ban nhân dân các cấp có liên quan, ý kiến của cộng đồng dân cư sinh sống hợp pháp trong hoặc tiếp giáp khu vực dự kiến thành lập khu bảo tồn và ý kiến chấp thuận của cơ quan nhà nước có thẩm quyền quản lý khu bảo tồn. Khu BTTN bao gồm: VQG, khu dự trữ thiên nhiên, khu bảo tồn loài - sinh cảnh, khu bảo vệ cảnh quan [30, Điều 17, Điều 18, Điều 19, Điều 20]. Việc quản lý khu bảo tồn thiên nhiên theo sự phân công, phân cấp của Chính phủ. Khu bảo tồn cấp quốc gia có Ban quản lý, khu bảo tồn cấp tỉnh do Ban quản lý hoặc tổ chức được giao quản lý khu bảo tồn. Luật ĐDSH năm 2008 quy định khá cụ thể về quyền và trách nhiệm của Ban quản lý khu bảo tồn hoặc tổ chức được giao quản lý khu bảo tồn; Quyền và nghĩa vụ của hộ gia đình, cá nhân sinh sống hợp pháp trong khu bảo tồn; Quyền và trách nhiệm của Ban quản lý khu bảo tồn hoặc tổ chức được giao quản lý khu bảo tồn. Quyền và nghĩa vụ của tổ chức, cá nhân có hoạt động hợp pháp trong khu bảo tồn [30, Điều 29, Điều 30, Điều 31]. Hiện tại ở nước ta có 3 đạo luật quy định 3 hệ thống khu bảo tồn, dù có tên gọi khác nhau, nhưng mục đích được thành lập đều là bảo tồn đa dạng sinh học, đó là Luật BV&PT rừng năm 2004 có rừng đặc dụng; Luật Thủy sản năm 2003 có khu bảo tồn biển và khu bảo tồn vùng nước nội địa; Luật ĐDSH năm 2008 có khu bảo tồn thiên nhiên [24, tr10 – tr11].
  41. 41. 35 Rừng đặc dụng gồm: 1. Vườn quốc gia 2. Khu dự trữ thiên nhiên 3. Khu BT loài-sinh cảnh 4. Khu bảo vệ cảnh quan 5. Khu rừng nghiên cứu, thực nghiệm khoa học Khu BTTN gồm: 1. Vườn quốc gia 2. Khu dự trữ thiên nhiên 3. Khu BT loài- sinh cảnh 4. Khu bảo vệ cảnh quan. Riêng 3 phân hạng sau còn gồm 2 nhóm: Cấp quốc gia và cấp địa phương. Khu bảo tồn biển và khu bảo tồn vùng nước nội địa gồm 1. Vườn quốc gia 2. Khu dự trữ tài nguyên thiên nhiên thủy sinh và 3. Khu bảo tồn loài-sinh cảnh. Giữa Luật BV&PT rừng năm 2004 và Luật ĐDSH năm 2008 có sự khác nhau về phân chia và dùng từ, một bên sử dụng “rừng đặc dụng”, bên kia dùng “khu bảo tồn”. Trong khi theo Luật BV&PT rừng năm 2004 thì “khu bảo tồn” nằm trong rừng đặc dụng và dưới Vườn quốc gia nghĩa là chỉ tương đương với cấp Khu dự trữ Thiên nhiên của Luật ĐDSH năm 2008. Do đó tạo ra sự không thống nhất về cách sử dụng, gây khó khăn cho công tác quản lý. Trong bảng phân hạng của IUCN thì khu BTTN được chia làm 6 hạng, không có khu vực dành cho thực nghiệm khoa học; đối chiếu với phân hạng của Luật BV&PT rừng năm 2004 tương đương từ I – V, không có phân hạng VI (điều hành để sử dụng hiệu quả tài nguyên môi trường), các quy định về quản lý rừng đặc dụng thì không có loại rừng đặc dụng nào cho phép khai thác hiệu quả tài nguyên thiên nhiên. Tuy nhiên thực tế người dân vẫn khai thác và sử dụng tài nguyên thiên nhiên trong rừng đặc dụng bởi từ lâu người dân sống gắn bó với rừng, coi rừng là nhà. Do đó cần phải sửa đổi và bổ sung trong việc phân hạng rừng đặc dụng cho phù hợp với thực tế nhưng vẫn đảm bảo việc quản lý rừng tốt. Hệ thống quản lý các khu rừng đặc dụng chưa có một cơ chế rõ ràng và việc quản lý cũng chưa thống nhất. Có 06 Vườn là thuộc Bộ, còn lại trực thuộc Ủy ban nhân dân tỉnh và Sở Nông nghiệp và phát triển nông thôn tỉnh; còn 98 khu rừng đặc dụng khác do Sở Nông nghiệp và phát triển nông thôn tỉnh và Chi cục kiểm lâm quản lý. Chính sự không thống nhất này đã dẫn đến việc quản lý và bảo tồn các khu rừng đặc

×