O slideshow foi denunciado.
Seu SlideShare está sendo baixado. ×

Luận án: Vai trò của an sinh xã hội đối với tiến bộ xã hội Việt Nam

Anúncio
Anúncio
Anúncio
Anúncio
Anúncio
Anúncio
Anúncio
Anúncio
Anúncio
Anúncio
Anúncio
Anúncio
1
HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA HỒ CHÍ MINH
NGUYỄN TIẾN HÙNG
VAI TRÒ CỦA AN SINH XÃ HỘI ĐỐI VỚI
TIẾN BỘ XÃ HỘI Ở VIỆT NAM HI...
2
HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA HỒ CHÍ MINH
NGUYỄN TIẾN HÙNG
VAI TRÒ CỦA AN SINH XÃ HỘI ĐỐI VỚI
TIẾN BỘ XÃ HỘI Ở VIỆT NAM HI...
3
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu riêng của tôi. Các số liệu,
kết quả nêu trong luận án là trun...
Anúncio
Anúncio
Anúncio
Anúncio
Anúncio
Anúncio
Anúncio
Anúncio
Anúncio
Anúncio

Confira estes a seguir

1 de 171 Anúncio

Luận án: Vai trò của an sinh xã hội đối với tiến bộ xã hội Việt Nam

Download luận án tiến sĩ ngành triết học với đề tài: Vai trò của an sinh xã hội đối với tiến bộ xã hội ở Việt Nam hiện nay, cho các bạn làm luận án tham khảo

Download luận án tiến sĩ ngành triết học với đề tài: Vai trò của an sinh xã hội đối với tiến bộ xã hội ở Việt Nam hiện nay, cho các bạn làm luận án tham khảo

Anúncio
Anúncio

Mais Conteúdo rRelacionado

Diapositivos para si (16)

Semelhante a Luận án: Vai trò của an sinh xã hội đối với tiến bộ xã hội Việt Nam (20)

Anúncio

Mais de Dịch vụ viết bài trọn gói ZALO: 0917.193.864 (20)

Mais recentes (20)

Anúncio

Luận án: Vai trò của an sinh xã hội đối với tiến bộ xã hội Việt Nam

  1. 1. 1 HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA HỒ CHÍ MINH NGUYỄN TIẾN HÙNG VAI TRÒ CỦA AN SINH XÃ HỘI ĐỐI VỚI TIẾN BỘ XÃ HỘI Ở VIỆT NAM HIỆN NAY LUẬN ÁN TIẾN SĨ CHUYÊN NGÀNH: Chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử Hà Nội - năm 2016
  2. 2. 2 HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA HỒ CHÍ MINH NGUYỄN TIẾN HÙNG VAI TRÒ CỦA AN SINH XÃ HỘI ĐỐI VỚI TIẾN BỘ XÃ HỘI Ở VIỆT NAM HIỆN NAY LUẬN ÁN TIẾN SĨ TRIẾT HỌC CHUYÊN NGÀNH: Chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử 62.22.03.02 NGƢỜI HƢỚNG DẪN KHOA HỌC 1. PGS.TSKH. Lƣơng Đình Hải 2. TS. Nguyễn Đình Hoà Hà Nội - năm 2016
  3. 3. 3 LỜI CAM ĐOAN Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu riêng của tôi. Các số liệu, kết quả nêu trong luận án là trung thực, có nguồn gốc rõ ràng và được trích dẫn đầy đủ theo quy định. Tác giả Nguyễn Tiến Hùng
  4. 4. 4 MỤC LỤC Nội dung Trang MỞ ĐẦU 01 Chƣơng 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU 06 1.1. Những công trình bàn về an sinh xã hội, tiến bộ xã hội và vai trò của an sinh xã hội đối với tiến bộ xã hội 06 1.2. Các công trình nghiên cứu thực trạng vai trò của an sinh xã hội đối với tiến bộ xã hội ở Việt Nam 22 1.3. Những công trình nghiên cứu về các giải pháp phát huy vai trò của an sinh xã hội đối với tiến bộ xã hội ở Việt Nam hiện nay 25 Chƣơng 2: VAI TRÕ CỦA AN SINH XÃ HỘI ĐỐI VỚI TIẾN BỘ XÃ HỘI - MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN 32 2.1. An sinh xã hội, tiến bộ xã hội: Khái niệm và một số nội dung chủ yếu 32 2.2. Mối quan hệ giữa an sinh xã hội và tiến bộ xã hội 59 Chƣơng 3: VAI TRÕ CỦA AN SINH XÃ HỘI ĐỐI VỚI TIẾN BỘ XÃ HỘI Ở VIỆT NAM TỪ NĂM 1986 ĐẾN NAY - THỰC TRẠNG VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ ĐẶT RA 72 3.1. Thực trạng vai trò của an sinh xã hội đối với tiến bộ xã hội ở Việt Nam từ năm 1986 đến nay 72 3.2. Những vấn đề đặt ra trong việc phát huy vai trò của an sinh xã hội đối với tiến bộ xã hội ở Việt Nam hiện nay 103 Chƣơng 4: MỘT SỐ GIẢI PHÁP CƠ BẢN PHÁT HUY VAI TRÕ CỦA AN SINH XÃ HỘI ĐỐI VỚI TIẾN BỘ XÃ HỘI Ở VIỆT NAM HIỆN NAY 114 4.1. Đổi mới nhận thức về an sinh xã hội để phát huy tốt vai trò của an sinh xã hội đối với tiến bộ xã hội 114 4.2. Phát triển kinh tế nhanh và bền vững, tạo cơ sở vật chất để đảm bảo an sinh xã hội thúc đẩy tiến bộ xã hội 128 4.3 Nhóm giải pháp phát triển hệ thống an sinh xã hội đa dạng, đa tầng để thúc đẩy tiến bộ xã hội 134 KẾT LUẬN 148 DANH MỤC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU CỦA TÁC GIẢ ĐÃ CÔNG BỐ CÓ LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN 151 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 152
  5. 5. 5 NHỮNG CHỮ VIẾT TẮT TRONG LUẬN ÁN Những chữ viết tắt Những chữ đƣợc viết tắt ASXH An sinh xã hội BHTN Bảo hiểm thất nghiệp BHXH Bảo hiểm xã hội BHYT Bảo hiểm y tế BTXH Bảo trợ xã hội LLSX Lực lượng sản xuất NSNN Ngân sách nhà nước TBXH Tiến bộ xã hội TCXH Trợ cấp xã hội TGXH Trợ giúp xã hội ƯĐXH Ưu đãi xã hội XHCN Xã hội chủ nghĩa
  6. 6. 6 MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Lịch sử xã hội loài người nói chung vận động theo hướng tiến bộ, mỗi giai đoạn vận động và phát triển của xã hội có thể theo những xu hướng khác nhau, nhưng xét đến cùng, đều là những nấc thang của sự tiến bộ xã hội (TBXH). Tiến bộ xã hội được đánh giá thông qua sự phát triển con người, là khả năng đáp ứng các nhu cầu vật chất, tinh thần của con người ngày càng cao. Tuy nhiên, ở nhiều quốc gia, dân tộc, không phải tất cả mọi nhu cầu của con người đều đã được đáp ứng do trình độ phát triển kinh tế, do sự hạn chế bởi các thể chế chính trị, sự tồn tại các quan điểm mâu thuẫn nhau… Bên cạnh đó, ở nhiều quốc gia lại tồn tại tình trạng bất bình đẳng, nghèo đói, dịch bệnh, thiên tai địch họa, khủng hoảng kinh tế... Do vậy, việc đáp ứng nhu cầu vật chất, tinh thần, đảm bảo cho sự phát triển hài hòa của sự TBXH vẫn còn hạn chế ở những mức độ khác nhau. Để khắc phục những hạn chế đó, các quốc gia đã sử dụng nhiều cách thức khác nhau để giải quyết các vấn đề xã hội, trong đó an sinh xã hội (ASXH) được coi như cách thức cơ bản góp phần thúc đẩy sự phát triển và TBXH. An sinh xã hội được xem là một “giá đỡ”, một “lưới an toàn” để tăng cường khả năng ngăn ngừa, chống đỡ, giảm nhẹ, khắc phục những rủi ro gặp phải trong cuộc sống, đảm bảo cho các cá nhân, các giai tầng xã hội có điều kiện, cơ hội phát triển. Việt Nam là quốc gia đang phát triển với những điều kiện, hoàn cảnh có nhiều yếu tố đặc thù. Đất nước Việt Nam đã và đang khắc phục hậu quả do chiến tranh kéo dài, đang trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (CNXH)… Sau 30 năm đổi mới, sự phát triển kinh tế thị trường định hướng
  7. 7. 7 xã hội chủ nghĩa đã đem lại những biến đổi sâu sắc về kinh tế - xã hội. Kinh tế tăng trưởng nhanh, cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng tiến bộ, thu nhập bình quân đầu người ngày một nâng cao, đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân có sự cải thiện rõ rệt. Tuy vậy, do xuất phát điểm thấp, do tác động của nền kinh tế thị trường, hội nhập kinh tế quốc tế và các nguyên nhân khác, nhiều vấn đề xã hội mới nảy sinh phức tạp. Tình trạng phân hóa giàu nghèo, sự bất bình đẳng trong thu nhập, tạo ra khoảng cách thu nhập ngày càng lớn, là mầm mống cho những bất ổn xã hội. Quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế dẫn đến hàng triệu lao động nông nghiệp mất đất, di chuyển từ nông thôn ra thành thị tìm kiếm việc làm và phải chấp nhận cuộc sống đầy rủi ro, bấp bênh. Nguy cơ thất nghiệp, bệnh tật, ốm đau đang đe dọa một bộ phận người lao động, nhất là lao động phổ thông. Bên cạnh đó, biến đổi khí hậu đã và đang tác động tiêu cực đến quá trình phát triển kinh tế - xã hội của Việt Nam, như hạn hán, sa mạc hóa trong nông nghiệp, xâm thực của biển; nhiễm mặn, lũ ống, lũ quét, v.v.. các nhóm yếu thế, dễ bị tổn thương cần trợ giúp trong xã hội còn rất lớn. Do vậy, việc xây dựng hệ thống ASXH phù hợp, góp phần thực hiện TBXH là vấn đề có ý nghĩa lý luận và thực tiễn cấp thiết. Bước vào thời kỳ chủ động và tích cực hội nhập quốc tế, cùng với sự tăng trưởng kinh tế, hệ thống ASXH cũng ngày càng đồng bộ, hoàn thiện với diện bao phủ không ngừng được mở rộng. An sinh xã hội đã giúp cho các nhóm yếu thế, dễ bị tổn thương trong xã hội có được cuộc sống ổn định hơn, khắc phục khó khăn tốt hơn. T TBXH, Việt Nam được đánh giá là một trong những quốc gia thành công nhất trong thực hiện các mục tiêu Thiên niên kỷ về giảm nghèo và giải quyết các vấn đề xã hội, góp phần thúc đẩy TBXH. Tuy nhiên, trong điều kiện kinh tế đất nước còn eo hẹp, nhận thức về việc xây dựng hệ thống ASXH còn hạn chế, với mức hỗ trợ thấp và chưa đáp ứng được yêu cầu; hệ thống ASXH đang trong quá trình hình thành, nhiều vấn đề đòi hỏi phải được nghiên cứu, bổ sung và
  8. 8. 8 hoàn thiện... để hệ thống ASXH ở Việt Nam phát huy tốt hơn vai trò của nó đối với TBXH. Xuất phát từ yêu cầu trên đây, tác giả chọn vấn đề “Vai trò của an sinh xã hội đối với tiến bộ xã hội ở Việt Nam hiện nay” làm nội dung nghiên cứu trong luận án của mình. 2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 2.1. Mục đích Trên cơ sở phân tích một số vấn đề lý luận về vai trò ASXH đối với TBXH và đánh giá thực trạng vai trò của ASXH đối với TBXH ở Việt Nam trong những năm qua, luận án đề xuất những giải pháp cơ bản nhằm phát huy vai trò của ASXH đối với TBXH ở nước ta hiện nay. 2.2. Nhiệm vụ - Hệ thống hóa, luận giải một số vấn đề lý luận cơ bản về vai trò của ASXH đối với TBXH. - Phân tích, đánh giá thực trạng vai trò ASXH đối với TBXH ở Việt Nam từ năm 1986 đến nay. - Đề xuất một số giải pháp cơ bản nhằm phát huy vai trò của ASXH đối với TBXH ở Việt Nam hiện nay. 3. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu 3.1. Đối tượng nghiên cứu Đối tượng nghiên cứu của luận án là vai trò của ASXH đối với TBXH ở Việt Nam hiện nay. 3.2. Phạm vi nghiên cứu Vai trò của ASXH đối với TBXH xét cả về mặt lý luận và thực tiễn bao gồm nhiều nội dung, nhiều vấn đề. Do vậy, luận án giới hạn phạm vi nghiên cứu là: - Về nội dung: Luận án tập trung nghiên cứu vai trò của ASXH đối với TBXH ở Việt Nam hiện nay. - Về không gian: Nghiên cứu trên phạm vi cả nước.
  9. 9. 9 - Về thời gian: Luận án nghiên cứu vai trò của ASXH đối với TBXH ở Việt Nam từ năm 1986 đến nay, tập trung là từ năm 2000 đến nay - vì đây là giai đoạn hệ thống ASXH đã được hình thành tương đối rõ nét cả về nhận thức, lý luận cũng như hành động thực tiễn. 4. Cơ sở lý luận, thực tiễn và phƣơng pháp nghiên cứu 4.1. Cơ sở lý luận và thực tiễn Cơ sở lý luận: Luận án được thực hiện trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, các quan điểm của Đảng và Nhà nước ta về vai trò của ASXH đối với TBXH ở Việt Nam hiện nay. Đồng thời, luận án có tham khảo kết quả nghiên cứu của một số công trình của các tác giả đi trước có liên quan đến đề tài. Cơ sở thực tiễn: Luận án căn cứ vào sự thể hiện thực tế vai trò của ASXH đối với TBXH ở Việt Nam trong những năm qua. 4.2. Phương pháp nghiên cứu Luận án được thực hiện trên cơ sở vận dụng phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử; kết hợp phương pháp lịch sử - lôgíc, phân tích và tổng hợp, phương pháp trừu tượng hóa và khái quát hóa, hệ thống hóa… Đồng thời, sử dụng một số phương pháp nghiên cứu khoa học xã hội khác, như phương pháp so sánh, phân tích số liệu… 5. Điểm mới của luận án Là một công trình nghiên cứu dưới góc độ triết học về vai trò của ASXH đối với TBXH, luận án có những đóng góp mới sau đây: - Phân tích, đánh giá khái quát thực trạng vai trò của ASXH đối với TBXH ở Việt Nam thời gian qua. - Đề xuất một số giải pháp cơ bản nhằm phát huy vai trò của ASXH đối với TBXH ở Việt Nam hiện nay.
  10. 10. 10 6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận án 6.1. Ý nghĩa lý luận Luận án góp phần hệ thống hóa, làm sáng tỏ thêm những vấn đề lý luận cơ bản về vai trò của ASXH đối với TBXH nói chung và ở Việt Nam nói riêng. 6.2. Ý nghĩa thực tiễn - Luận án có thể sử dụng làm tài liệu tham khảo cho hoạt động nghiên cứu, giảng dạy về hệ thống chính sách ASXH ở nước ta nói chung, ở Học viện Chính sách và Phát triển nói riêng. - Kết quả của luận án có thể gợi mở cho các cơ quan quản lý có những điều chỉnh chính sách phù hợp để phát huy vai trò của ASXH đối với TBXH trong thời kỳ đổi mới ở nước ta. - Góp thêm ý kiến để điều chỉnh nhận thức, hành động, trách nhiệm của xã hội và đối tượng được thụ hưởng ASXH trong thực hiện TBXH ở Việt Nam hiện nay. 7. Kết cấu của luận án Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục các công trình nghiên cứu của tác giả, tài liệu tham khảo, phụ lục, luận án được trình bày trong 4 chương 10 tiết.
  11. 11. 11 Chƣơng 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU 1.1. NHỮNG CÔNG TRÌNH BÀN VỀ AN SINH XÃ HỘI, TIẾN BỘ XÃ HỘI VÀ VAI TRÒ CỦA AN SINH XÃ HỘI ĐỐI VỚI TIẾN BỘ XÃ HỘI 1.1.1. Các công trình chủ yếu nghiên cứu nội dung an sinh xã hội An sinh xã hội là một trong những vấn đề quan trọng trong chiến lược phát triển của mỗi quốc gia. Vì vậy, ASXH đã và đang là vấn đề được quan tâm nghiên cứu bởi các nhà khoa học trong nước và trên thế giới với cách tiếp cận, nghiên cứu ở nhiều góc độ khác nhau. Có thể kể đến những công trình chủ yếu và các kết quả nghiên cứu chính sau: Cuốn An sinh xã hội và phát triển nguồn nhân lực [122] của Mạc Văn Tiến tập hợp 101 bài viết nghiên cứu, bài trao đổi tại các Hội thảo trong và ngoài nước của tác giả, cuốn sách chia làm 3 phần: Phần I - Một số vấn đề về an sinh xã hội, gồm 17 bài, đã đề cập đến nhiều nội dung, nhiều khía cạnh khác nhau về ASXH, như khái niệm, cấu trúc, nội dung của ASXH. Phần II - Bảo hiểm xã hội (BHXH), gồm 55 bài, đề cập đến nguồn gốc, đặc trưng, chức năng, vai trò của BHXH, tác giả đã nhấn mạnh, BHXH là một bộ phận cơ bản, quan trọng nhất của hệ thống ASXH. Phần III - Phát triển nguồn nhân lực, gồm 29 bài, đề cập đến nhiều vấn đề khác nhau về nguồn nhân lực hiện nay ở nước ta. Cuốn Giáo trình An sinh xã hội [57] của tác giả Nguyễn Văn Định đã cung cấp những kiến thức cơ sở về ASXH. Cuốn giáo trình đã nêu ra vai trò của ASXH; bản chất và chức năng của ASXH; hệ thống các chính sách ASXH, như bảo hiểm xã hội, cứu trợ xã hội, ưu đãi xã hội, chính sách xóa đói giảm nghèo, quỹ dự phòng; nêu ra sự cần thiết, các nguyên tắc và nội dung của quản lý nhà nước về ASXH. Với những nội dung được trình bày, giáo trình này là tài liệu cơ sở để phân tích những vấn đề lý luận về ASXH và ASXH ở Việt Nam hiện nay. Cuốn Hệ thống an sinh xã hội của EU và bài học kinh nghiệm cho Việt
  12. 12. 12 Nam [147] của tác giả Đinh Công Tuấn đã phân tích tổng quát về hệ thống ASXH của châu Âu nói chung và một số quốc gia điển hình trong việc cải cách hệ thống ASXH: Mô hình “thị trường xã hội” của Đức; mô hình “thị trường tự do” của Anh; mô hình “xã hội dân chủ” của Thụy Điển. Cuốn sách còn chỉ ra thành công, hạn chế và xu hướng cải cách của hệ thống ASXH của một số nước châu Âu; từ đó, gợi ý những bài học kinh nghiệm cho Việt Nam hiện nay. Cuốn sách Xây dựng và hoàn thiện hệ thống chính sách an sinh xã hội ở Việt Nam [23] của tác giả Mai Ngọc Cường đã cung cấp một cái nhìn tổng quan về khái niệm, cấu trúc, nội dung của ASXH. Chẳng hạn, về khái niệm ASXH, tác giả cho rằng, ASXH là một khái niệm mở, có thể tiếp cận phạm trù này dưới hai giác độ là theo nghĩa rộng và nghĩa hẹp: Theo nghĩa rộng, ASXH là sự bảo đảm thực hiện các quyền để con người được hưởng an bình, an ninh, an toàn và an khang trong xã hội; theo nghĩa hẹp, ASXH là sự đảm bảo thu nhập và một số điều kiện thiết yếu khác cho cá nhân, gia đình và cộng đồng khi họ bị giảm hoặc mất thu nhập do họ bị giảm hoặc mất khả năng lao động hoặc mất việc làm; cho những người già cô đơn, trẻ em mồ côi, người tàn tật, những người yếu thế, người bị thiên tai địch hoạ… Tác giả ủng hộ cách tiếp cận ASXH theo nghĩa hẹp, vì theo tác giả, cách tiếp cận theo nghĩa hẹp phù hợp với cách tiếp cận của ILO. Tác giả cuốn sách đã đưa ra quan điểm nghiên cứu về khái niệm ASXH là sự đảm bảo thu nhập và một số điều kiện thiết yếu khác cho cá nhân, gia đình và cộng đồng trước những biến động về kinh tế, xã hội và tự nhiên làm cho họ bị giảm hoặc khả năng lao động hoặc mất việc làm, bị ốm đau, bệnh tật, hoặc tử vong; cho những người già cô đơn, trẻ em mồ côi, người tàn tật, những người yếu thế, những nạn nhân chiến tranh, những người bị thiên tai địch hoạ. Chiến lược an sinh xã hội 2011 - 2020 [17] của Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội đã chỉ ra rằng, hệ thống ASXH thời kỳ 2011 - 2020 gồm 3 tầng lưới có khả năng hỗ trợ lẫn nhau hướng tới mục tiêu bảo đảm mức sống tối thiểu cho mọi người dân, không để cho người dân bị bần cùng hóa, bị gạt ra bên lề xã hội, gồm: Lưới thứ nhất - Phòng ngừa rủi ro, bao gồm nhóm chính sách hỗ trợ
  13. 13. 13 người dân có việc làm, tạo thu nhập và tham gia thị trường lao động để chủ động phòng ngừa rủi ro về đời sống, sức khỏe, sản xuất kinh doanh hoặc do biến động của môi trường tự nhiên; lưới thứ hai: Giảm thiểu rủi ro, bao gồm nhóm chính sách BHXH, BHYT, bảo hiểm nông nghiệp để bù đắp phần thu nhập bị suy giảm hoặc bị mất do các biến cố trong đời sống, sức khỏe, sản xuất kinh doanh và môi trường tự nhiên; lưới thứ ba: Khắc phục rủi ro, bao gồm nhóm chính sách trợ giúp xã hội, xóa đói giảm nghèo, tăng cường cơ hội tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản để hỗ trợ người dân khắc phục các rủi ro không lường trước hoặc vượt quá khả năng kiểm soát do các biến cố trong đời sống, sức khỏe, sản xuất kinh doanh và môi trường tự nhiên, bảo đảm điều kiện sống tối thiểu của người dân. Đây thực chất là nội hàm phản ánh khái niệm, nội dung, chức năng ASXH ở nước ta mà luận án sẽ kế thừa. Trong cuốn Pháp luật an sinh xã hội - Kinh nghiệm của một số nước đối với Việt Nam [66] của Trần Hoàng Hải và Lê Thị Thuý Phương, các tác giả đã nghiên cứu, phân tích hệ thống pháp luật ASXH ở một số nước tiêu biểu như Đức, Mỹ, Nga; đồng thời, trình bày những nội dung cơ bản của pháp luật Việt Nam. Trên cơ sở sử dụng phương pháp nghiên cứu, so sánh luật, tác giả đưa ra nhận định, đánh giá chung về những ưu điểm, bất cập trong pháp luật hiện hành, đồng thời đề xuất một số kiến nghị nhằm hoàn thiện hệ thống pháp luật về lĩnh vực này. Cuốn sách được chia làm ba chương: Chương 1: Tổng quan hệ thống về ASXH, chương này nghiên cứu về nguồn gốc xuất xứ của thuật ngữ ASXH, vai trò của ASXH và các thiết chế ASXH dưới góc độ pháp luật quốc tế. Chương 2: Pháp luật ASXH của một số nước, chương này tập trung nghiên cứu pháp luật ASXH của một số quốc gia tiêu biểu như Mỹ, Đức và Nga. Đây là những quốc gia có những nét rất đặc trưng và có thể đại diện cho các mô hình ASXH khác nhau trên thế giới. Chương 3: Pháp luật về ASXH của Việt Nam, chương này giới thiệu khái quát hệ thống ASXH Việt Nam, phân tích những đặc điểm của hệ thống và sự điều chỉnh của pháp luật đối với hệ thống. Trên cơ sở những kinh nghiệm thực hiện pháp luật về ASXH của các quốc gia khác, các tác giả rút ra
  14. 14. 14 một số bài học để vận dụng vào quá trình xây dựng và hoàn thiện pháp luật về ASXH ở Việt Nam. Đảng Cộng sản Việt Nam trong quá trình lãnh đạo đất nước rất quan tâm đến vấn đề ASXH, nhất là trong thời kỳ đổi mới đất nước. Để thuận lợi cho nhận thức và hành động, đưa nghị quyết của Đảng vào cuộc sống, các quan điểm chỉ đạo đó đã được trình bày một cách ngắn gọn, hệ thống trong cuốn sách Tìm hiểu một số thuật ngữ trong Văn kiện Đại hội XI của Đảng [114] do Nguyễn Văn Thạo và Nguyễn Viết Thông đồng chủ biên, công trình đã tập hợp, tuyển chọn các định nghĩa về ASXH của các nhà nghiên cứu, các tổ chức quốc tế, từ đó làm cơ sở dẫn giải các quan điểm của Đảng ta về ASXH. Các tác giả đã nhấn mạnh rằng, ASXH ở nước ta hiện nay được hiểu là một hệ thống chính sách và giải pháp áp dụng rộng rãi để trợ giúp các thành viên trong xã hội đối phó với những rủi ro và khó khăn khi gặp phải, dẫn đến mất việc làm hoặc làm suy giảm nghiêm trọng đến quyền thu nhập và cuộc sống. Hệ thống ASXH ở nước ta gồm 5 trụ cột cơ bản là hệ thống chính sách, giải pháp và các chương trình phát triển thị trường lao động; phát triển hệ thống bảo hiểm; thực hiện có hiệu quả chương trình xoá đói giảm nghèo bền vững; xây dựng thực hiện tốt chính sách ưu đãi đối với ngững người có công; phát triển hệ thống phúc lợi xã hội và hệ thống dịch vụ xã hội. Cuốn Thuật ngữ an sinh xã hội Việt Nam [125] của Viện Khoa học và Lao động xã hội (ILSSA) phối hợp với Dự án Hỗ trợ giảm nghèo ở Việt Nam, do Tổ chức GIZ thực hiện dưới sự uỷ quyền của Bộ Hợp tác Kinh tế và Phát triển Đức (BMZ) xây dựng, xuất bản năm 2011. Với gần 200 thuật ngữ ASXH sắp xếp theo thứ tự ABC bằng tiếng Việt và song ngữ Việt - Anh, cuốn sách không chỉ đem lại sự thuận tiện trong tra cứu mà còn giúp độc giả có một cái nhìn tổng quát về mối liên hệ giữa các trụ cột trong hệ thống ASXH ở Việt Nam cùng các chương trình, chính sách có liên quan thông qua sơ đồ về hệ thống ASXH.
  15. 15. 15 Tác giả Dương Văn Thắng với bài Bảo đảm an sinh xã hội dưới ánh sáng Đại hội XI của Đảng [115] đã cho rằng, “an sinh” là một từ Hán-Việt. An - trong chữ “an toàn”, sinh - trong chữ “sinh sống”, an sinh có thể hiểu là “an toàn sinh sống”. Nói một cách khái lược: Xã hội an sinh là xã hội mà mọi người được an toàn sinh sống, hay là có cuộc sống an toàn. Nói ngắn gọn, ASXH là một tấm lưới che chắn, bảo đảm an toàn cho xã hội và con người, là nhân tố bảo đảm cho việc phát triển kinh tế - xã hội bền vững. An sinh xã hội là trụ cột của hệ thống chính sách xã hội, Hệ thống ASXH gồm các cơ chế, chính sách, giải pháp nhiều tầng, nấc nhằm bảo vệ cho mọi thành viên trong xã hội không bị rơi vào tình trạng bần cùng hóa bởi tác động tiêu cực của các loại rủi ro. An sinh xã hội có ba chức năng chính là phòng ngừa rủi ro, hạn chế rủi ro và khắc phục rủi ro. Cuốn An sinh xã hội ở Việt Nam hướng tới 2020 [105] do Vũ Văn Phúc chủ biên, đây là một tập hợp các bài viết của các nhà quản lý, các chuyên gia nghiên cứu trên nhiều lĩnh vực liên quan đến vấn đề ASXH. Mỗi bài viết được tiếp cận từ các khía cạnh khác nhau về chủ đề ASXH, nhưng đều khẳng định hệ thống ASXH ở nước ta hướng tới mục tiêu góp phần không ngừng nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân, bảo đảm cho sự phát triển bền vững của đất nước. Ngày 13-3-2012, tại Hà Nội, Ban Tuyên giáo Trung ương đã phối hợp với Tạp chí Cộng sản, Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội, Hội đồng Khoa học các cơ quan Đảng Trung ương tổ chức Hội thảo khoa học - thực tiễn “An sinh xã hội ở nước ta: Một số vấn đề lý luận và thực tiễn”[5]. Các bài tham luận đã làm rõ nội hàm khái niệm ASXH; kết cấu, các trụ cột chính của hệ thống ASXH nói chung, của hệ thống ASXH ở Việt Nam nói riêng; xác định thành tố, trụ cột nào là quan trọng nhất cần tập trung xây dựng và củng cố. Hội thảo đã làm rõ những thành tựu, hạn chế, những vấn đề đang đặt ra cần giải quyết để tiếp tục đổi mới, hoàn thiện hệ thống ASXH ở nước ta sau hơn 25 năm thực hiện công cuộc đổi mới. Đồng thời, phân tích những quan điểm định hướng lớn của Đảng và Nhà
  16. 16. 16 nước ta về xây dựng, hoàn thiện hệ thống ASXH trong thời kỳ đổi mới đất nước, những giải pháp đột phá, khả thi cần thực hiện trong quá trình đổi mới, hoàn thiện hệ thống ASXH ở nước ta hiện nay và đến năm 2020. Trong bài Tiếp cận an sinh xã hội ở Việt Nam hiện nay trên quan điểm phát triển bền vững [99], tác giả Nguyễn Thị Nga đã nhấn mạnh rằng, trong thực tiễn, do sự đa dạng về nội dung, phương thức và góc độ tiếp cận nên hiện nay còn có nhiều quan điểm khác nhau về ASXH, nhưng tựu trung lại, dù tiếp cận dưới giác độ nào đi chăng nữa, thì về bản chất, ASXH là vấn đề vừa có tính kinh tế, vừa có tính xã hội, vừa có tính nhân đạo rất sâu sắc. Nhà nước có vai trò quan trọng trong bảo đảm ASXH, đối tượng bảo đảm ASXH là đông đảo các tầng lớp dân cư. Cuốn Những thách thức và giải pháp đối với chính sách an sinh xã hội bền vững cho tất cả mọi người tại Việt Nam và Đức [103] do Nhà xuất bản Chính trị quốc gia phối hợp với Hội đồng Lý luận Trung ương xuất bản năm 2013. Cuốn sách tập hợp những bài tham luận của các nhà khoa học hàng đầu về ASXH của Việt Nam và Đức. Các bài hội thảo đã góp phần rút ra những bài học cho Việt Nam hiện nay khi thực hiện ASXH từ mô hình ASXH của Đức. Chẳng hạn, nước Đức là một nước có hệ thống ASXH toàn diện. Hệ thống ASXH của Đức chủ yếu chịu ảnh hưởng của trường phái Bismarck, lấy hệ thống BHXH làm nòng cốt để thực hiện chính sách ASXH cho người dân. Hệ thống ASXH của Đức thực hiện trên cơ sở “hợp đồng giữa các thế hệ", thanh toán bảo hiểm trên nguyên tắc phụ thuộc. Về mục tiêu: Chính sách ASXH ở Đức nhằm hướng đến sự phát triển bền vững "phồn vinh cho tất cả và công bằng xã hội". Đức là một trong số những nước có mạng lưới các chính sách xã hội dày đặc nhất: Ngân sách nhà nước cấp cho các khoản chi xã hội chiếm tới 26,7% GDP. Tỷ lệ đó ở Mỹ chỉ là 15,9% và tỷ lệ trung bình trong các nước OECD là 20,5%. Một hệ thống toàn diện gồm bảo hiểm y tế (BHYT), hưu trí, tai nạn, chăm sóc người già,
  17. 17. 17 người bệnh và bảo hiểm thất nghiệp (BHTN) bảo vệ người dân. Ngoài ra, hệ thống các chính sách xã hội toàn diện còn bao gồm những hỗ trợ của nhà nước lấy từ nguồn thu thuế, như hỗ trợ cho gia đình (trợ cấp cho con, giảm thuế) hoặc an sinh cơ bản cho người về hưu và người thất nghiệp dài hạn. Đức là một nhà nước xã hội coi việc bảo đảm ASXH cho tất cả công dân của mình là một nhiệm vụ hàng đầu. Ngày nay, gần 90% người dân sống ở Đức được hệ thống các chính sách xã hội bảo vệ. Về hình thức an sinh xã hội phong phú, đa dạng: Đảm bảo ASXH ở Đức góp phần ổn định cuộc sống của hàng triệu người dân, trong đó phần lớn là phụ nữ, trẻ em, người thất nghiệp dài hạn. Đức được đánh giá là nước có đối tượng nhận trợ cấp xã hội rộng rãi nhất ở khu vực EU và trên thế giới hiện nay. Đối tượng hưởng thụ và các biện pháp trong chính sách an sinh xã hội của Đức rất rộng rãi, dựa trên các nguyên tắc chủ yếu: Nguyên tắc hợp hiến; nguyên tắc đoàn kết và hỗ trợ, nguyên tắc hỗ trợ dựa trên trách nghiệm cá nhân, nguyên tắc phối hợp công bằng. Công tác chống tiêu cực của Đức trong việc đảm bảo an sinh xã hội của người dân nhằm đảm bảo "phồn vinh cho tất cả và công bằng xã hội" được tiến hành một cách nghiêm ngặt, đúng pháp luật. Vì thế, những tiêu cực ít nảy sinh trong quá trình thực hiện. Hơn nữa, Đức có chính sách quan tâm, đảm bảo cuộc sống cho những người thực thi chính sách ASXH. Điều kiện sống của họ tốt nên ít nảy sinh tiêu cực. Cuốn Chính sách an sinh xã hội và vai trò của Nhà nước trong việc thực hiện chính sách an sinh xã hội ở Việt Nam [29] của tác giả Nguyễn Văn Chiều. Trên cơ sở nghiên cứu những vấn đề lý luận chung về chính sách ASXH và vai trò của Nhà nước trong việc thực hiện chính sách ASXH, kinh nghiệm quốc tế và thực trạng Nhà nước thực hiện chính sách ASXH ở Việt Nam, cuốn sách đã phân tích những nội dung cơ bản của chính sách ASXH và vai trò của Nhà nước trong việc thực hiện chính sách ASXH ở Việt Nam hiện nay.
  18. 18. 18 Đề tài khoa học cấp Bộ: Đảm bảo an sinh xã hội - Định hướng mô hình và giải pháp [2], do Đặng Nguyên Anh làm chủ nhiệm, đã phân tích khái niệm và các chức năng, cấu trúc và các nguyên tắc cơ bản của hệ thống ASXH, tạo cơ sở lý luận cho việc định hướng mô hình và giải pháp về ASXH ở Việt Nam. Đề tài làm rõ những đặc điểm chung và nét đặc thù của từng mô hình, từ đó có thể gợi mở cho Việt Nam. Đề tài cấp Nhà nước: Cơ sở khoa học của việc xây dựng sàn an sinh xã hội ở Việt Nam giai đoạn năm 2011 - 2020 [162], mã số KX.02.07/11-15, do Viện Khoa học Lao động và Xã hội thực hiện, đã phân tích và thống nhất về cơ sở khoa học của việc xây dựng sàn an sinh xã hội ở Việt Nam, đề xuất các mức chuẩn để xây dựng sàn ASXH, các chính sách trong sàn ASXH. Đây là cơ sở quan trọng góp phần xây dựng và hoàn thiện hệ thống lý luận về ASXH, vai trò của ASXH ở Việt Nam trong những năm tiếp theo. Hai tác giả William Reichenstein, William Meyer trong cuốn sách Social Security Strategies: How to Optimize Retirement Benefits (Chiến lược ASXH: Làm thế nào để tối ưu hóa lợi ích hưu trí) [168], ngoài việc cung cấp cách thức sử dụng các thông tin và công nghệ tự động để tận dụng tối đa các lợi ích ASXH, nội dung chính của tác phẩm đã chỉ ra một số yếu tố ảnh hưởng đến ASXH và hưu trí của người dân nước Mỹ; đề xuất các biện pháp chuyên gia nhằm giúp người dân xây dựng chiến lược ASXH thông minh nhằm nâng cao thu nhập đời và giảm thiểu nguy cơ hết tiền tiết kiệm hưu trí. Với cuốn sách Basis of social security in Asia: Mutual aid, micro-insurance and social security (Cơ sở ASXH ở châu Á: Viện trợ lẫn nhau, bảo hiểm vi mô và ASXH) [167], James Midgley là người đầu tiên nghiên cứu một cách toàn diện các hoạt động của các hiệp hội lẫn nhau và các chương trình bảo hiểm vi mô của các hiệp hội ở châu Á nơi mà các chương trình này được phát triển đặc biệt tốt. Nội dung của cuốn sách có thể tóm lược như sau: Trên cơ sở cung cấp thông tin cơ bản để nhận biết và định dạng cơ bản về các hiệp hội tác động lẫn nhau trong các phần khác nhau của khu vực, bao gồm Nam Á, Sri Lanka, Thái
  19. 19. 19 Lan, Mông Cổ, Indonesia và Philippines, cuốn sách đã chỉ ra cho người đọc những hiểu biết quan trọng về tiềm năng của các hiệp hội để cung cấp bảo vệ thu nhập hiệu quả và làm thế nào các hoạt động của họ có thể đóng góp vào việc xây dựng chiến lược ASXH toàn diện và cơ sở hiệu quả trong thế giới đang phát triển đóng góp rõ rệt cho mục tiêu xoá đói, giảm nghèo và cải thiện mức sống. Tác phẩm Social Security, Medicare & Government Pensions (An sinh xã hội, chăm sóc y tế và trợ cấp chính phủ) [166] của Joseph Matthews Attorney. Cuốn sách đã bàn sâu về lợi ích và hệ thống chăm sóc y tế, nhà ở xã hội, tiền lương hưu, chính sách cho những người có công với đất nước và cách thức để đảm bảo BHYT tốt nhất. Ngoài những công trình nêu trên, một số công trình khác cũng nghiên cứu lý luận về ASXH ở nhiều khía cạnh khác nhau. Chẳng hạn, An sinh xã hội ở Việt Nam: Những quan điểm và cách tiếp cận cần thống nhất [46]; An sinh xã hội Bắc Âu trong cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu và bài học cho Việt Nam [148]; Giáo trình nhập môn an sinh xã hội [77]; An sinh xã hội ở Việt Nam trong thời kỳ đổi mới [97]; Từ nhận thức đến thực tiễn: Xây dựng trụ cột chính của hệ thống An sinh xã hội Quốc gia [116] v.v.. Những nghiên cứu này sẽ được tham khảo, kế thừa trong quá trình triển khai luận án. 1.1.2. Những công trình chủ yếu nghiên cứu nội dung của tiến bộ xã hội Ngay từ rất sớm, trên thế giới đã có những nghiên cứu về TBXH dưới những góc độ khác nhau. Từ những nghiên cứu của các nhà khoa học, Đại hội đồng Liên hợp quốc nhận thấy rằng cần đưa ra Tuyên bố về phát triển và tiến bộ xã hội để định hướng cho nhận thức và tìm ra cách thức để thúc đẩy TBXH. Tuyên bố về phát triển và tiến bộ xã hội được Đại hội đồng Liên hợp quốc thông qua theo Nghị quyết 2542 (XXIV) ngày 11/12/1969) đã nêu ra những nguyên tắc, mục tiêu, phương tiện, biện pháp để thực hiện sự phát triển và TBXH, trong đó Tuyên bố nêu rõ: Phát triển và TBXH nhằm đạt được các mục tiêu sau:
  20. 20. 20 Thứ nhất, phát triển và TBXH cần dựa trên cơ sở tôn trọng phẩm giá và giá trị của con người. Thứ hai, tạo điều kiện để phát triển kinh tế và xã hội một cách bền vững và nhanh chóng, nhất là ở các nước đang phát triển; thay đổi quan hệ kinh tế quốc tế, có những biện pháp mới và hiệu quả trong hợp tác quốc tế, trong đó bình đẳng về cơ hội được coi là đặc quyền giữa các dân tộc và giữa các cá nhân trong dân tộc đó. Thứ ba, cung cấp một hệ thống an sinh xã hội toàn diện và các dịch vụ phúc lợi xã hội; thiết lập và cải thiện hệ thống ASXH và hệ thống bảo hiểm cho tất cả những người ốm đau, khuyết tật, tuổi già đang tạm thời hoặc vĩnh viễn không còn khả năng kiếm sống, nhằm đảm bảo một mức sống thích đáng cho những người này cùng gia đình và những người sống phụ thuộc vào họ. Những mục tiêu mà Tuyên bố nêu ra cho đến nay vẫn là cơ sở để các quốc gia trên thế giới phấn đấu thực hiện, qua đó đã thúc đẩy sự tiến bộ chung của thế giới. Trên tinh thần đó, những công trình nghiên cứu về TBXH ngày càng phong phú và nhận thức về TBXH ngày càng sâu sắc hơn. Cuốn sách Tiến bộ xã hội - một số vấn đề lý luận [20] do tác giả Nguyễn Trọng Chuẩn chủ biên, đã phân tích những nội dung cơ bản về TBXH. Theo các tác giả, trong tương quan với những phạm trù cấu thành nội dung các nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa duy vật (chẳng hạn, tồn tại xã hội - ý thức xã hội, phương thức sản xuất: Lực lượng sản xuất - quan hệ sản xuất, cơ sở hạ tầng - kiến trúc thượng tầng...), TBXH là sự thể hiện nội dung của các nguyên lý đó trong khía cạnh giá trị của vấn đề. Nói cách khác, nếu các nguyên lý của chủ nghĩa duy vật lịch sử được xem xét từ lăng kính giá trị học thì giá trị của các quan hệ xã hội được phản ánh trong các nội dung đó chính là nội dung của khái niệm TBXH. Theo các tác giả, TBXH dù xét ở góc độ nào, dù có mang tính khách quan đến mấy thì cũng không thể là cái gì khác ngoài sản phẩm của sự đánh giá của con người đối với các hiện tượng và quá trình mang tính xã hội đã, đang hoặc sẽ diễn ra cùng với sự tồn tại của con người. Trong so sánh với những giá trị khác,
  21. 21. 21 những giá trị của sự tiến bộ, phần nhiều là các giá trị thứ sinh, phái sinh, tức là những giá trị được xác định trên cơ sở đã tồn tại các giá trị vật chất hoặc tinh thần khác. Sự đánh giá về trình độ tiến bộ của một hiện tượng hoặc một quá trình nào đó, thông thường không đơn thuần chỉ là đánh giá dựa vào các giá trị nội tại, ban đầu của các hiện tượng và các quá trình đã diễn ra trong đời sống xã hội, mà là sự đánh giá ở cấp độ cao hơn - những hiện tượng và quá trình cụ thể đó có ý nghĩa như thế nào đối với sự phát triển nói chung của cộng đồng và của xã hội loài người. Trên lập trường của chủ nghĩa duy vật lịch sử, các tác giả nhấn mạnh: Tiến bộ xã hội, xét cho cùng, là sự vận động của xã hội từ hình thái kinh tế - xã hội này tới hình thái kình tế xã hội khác cao hơn. Sự vận động ấy diễn ra trong một quá trình lịch sử - tự nhiên, với khuynh hướng của sự phủ định có kế thừa giữa các xã hội theo chiều xoáy ốc đi lên. Như vậy, theo quan điểm của chủ nghĩa duy vật lịch sử, TBXH là một tiến trình mang tính quy luật, là một hiện tượng khách quan và tất yếu - nó vốn có đối với mọi xã hội. Các tác giả cũng cho rằng, việc kiến giải về TBXH theo quan điểm của chủ nghĩa duy vật lịch sử cho phép khẳng định rằng, dù lịch sử xã hội loài người có quanh co đến mấy, dù bộ mặt của tiến bộ trong xã hội hiện đại có đa dạng đến mấy thì cái có ý nghĩa sâu xa, quyết định mọi tiến bộ vẫn là sự phát triển của lực lượng sản xuất, vẫn là sự lớn mạnh của nền sản xuất xã hội. Mặc dù TBXH là một giá trị gắn rất chặt với các nhân tố tinh thần, chịu sự chi phối của các nhân tố tinh thần, tuy nhiên, cái quyết định TBXH, xét cho cùng, vẫn là các nhân tố vật chất, thuộc về nền sản xuất xã hội. Việc đánh giá vai trò to lớn của đời sống tinh thần, tính quy định của các nhân tố văn hoá tinh thần... trên thực tế, đều phải dựa vào một tiền đề là thừa nhận tính quyết định của đời sống vật chất. Sự tác động trở lại của các nhân tố tinh thần đối với đời sống vật chất xã hội, về thực chất, cũng là tác động để nhân tố vật chất tăng thêm sức mạnh vốn có của nó. Các tác giả nhấn mạnh rằng, vai trò của sự phát triển lực lượng sản xuất, của sự tăng trưởng kinh tế đối với TBXH là điều không cần phải bàn cãi, nhưng việc
  22. 22. 22 chú ý hơn đến vai trò của phong tục, tập quán, nếp tư duy hoặc lĩnh vực tâm linh... của mỗi cộng đồng đối với TBXH cũng không kém phần ý nghĩa. Cuốn Công bằng xã hội trong tiến bộ xã hội [69] của tác giả Nguyễn Minh Hoàn đã có những nghiên cứu chuyên sâu về khái niệm TBXH. Sau khi khảo cứu quan điểm của các nhà triết học, các nhà tư tưởng trong lịch sử, cuốn sách đã trình bày quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin về bản chất, tiêu chuẩn của TBXH. Đáng chú ý, theo tác giả, trong các yếu tố thúc đẩy TBXH, thì công bằng xã hội là một yếu tố cơ bản. Công bằng xã hội không chỉ là động lực của TBXH mà còn là thước đo về mặt xã hội của TBXH. Nhận định này của tác giả cuốn sách là gợi ý để chúng tôi nghiên cứu về vai trò của ASXH đối với TBXH ở nước ta hiện nay. Cuốn sách Gắn tăng trưởng kinh tế và tiến bộ, công bằng xã hội [151] của tác giả Trần Nguyễn Tuyên đã phân tích về khái niệm TBXH, quan điểm của chủ nghĩa Mác -Lênin về TBXH, tiêu chuẩn của TBXH. Cuốn sách khẳng định, theo quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, TBXH bao giờ cũng là sự thống nhất giữa trình độ phát triển của LLSX với trình độ phát triển con người và trình độ phát triển con người, thông qua việc thực hiện công bằng xã hội với một thước đo bình đẳng thực sự nhằm phát huy vai trò và khả năng con người trong nền sản xuất nói riêng và trong tiến trình phát triển lịch sử nói chung. Sự phát triển xã hội là kết quả hoạt động của con người, đến lượt mình, xã hội phải là điều kiện để ngày càng phát triển cao hơn phẩm giá con người trong xã hội và đây là mục tiêu cao nhất của TBXH. Cuốn sách Tiến bộ xã hội: Một số vấn đề về mô hình phát triển ở Đông Á và Đông Nam Á [109] của tác giả Hồ Sĩ Quý đã nghiên cứu những quan điểm cơ bản về tăng trưởng, phát triển, phát triển bền vững và tiến bộ xã hội; vấn đề mô hình phát triển Đông Á và Đông Nam Á; phát triển và tiến bộ ở Việt Nam: Một số vấn đề nhìn từ kinh nghiệm Đông Á và Đông Nam Á. Nội dung cuốn sách tập trung bàn về những vấn đề cấp bách thuộc lý thuyết TBXH và những vấn đề nóng đang tranh cãi về mô hình phát triển ở Đông Á và Đông Nam Á. Cuốn sách
  23. 23. 23 cũng chỉ ra nhiều gợi ý liên quan đến sự phát triển ở Việt Nam, trong đó có những vấn đề về TBXH, trong khi chúng tôi thực hiện luận án này. Trong bài Về quan điểm tiến bộ và công bằng xã hội ở nước ta [68], tác giả Trần Hậu đã cho rằng, để giải phóng con người theo nghĩa đầy đủ của nó chẳng những phải tăng trưởng kinh tế mà phải thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội…, cần tiếp tục tổng kết thực tiễn và nghiên cứu lý luận để xây dựng một mô hình lý thuyết về phát triển xã hội, về thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội phù hợp với điều kiện nước ta. Những đặc điểm lịch sử cụ thể không giống nhiều nước đòi hỏi một khung lý thuyết về tiến bộ và công bằng xã hội ở Việt Nam mà không thể dập khuôn mô hình của bất cứ nước nào. Đó là cả một quá trình công phu tìm tòi từ nhiều góc độ khác nhau trong lịch sử và hiện tại, từ góc độ kinh tế đến chính trị, văn hoá, tập quán và tâm lý... 1.1.3. Các công trình nghiên cứu vai trò của an sinh xã hội đối với tiến bộ xã hội Trong cuốn An sinh xã hội và phát triển nguồn nhân lực [122], tác giả Mạc Văn Tiến cho rằng, ASXH đã góp phần thúc đẩy TBXH…; rằng, sự phát triển xã hội là một quá trình, trong đó các nhân tố kinh tế và nhân tố xã hội thường xuyên tác động lẫn nhau… Theo tác giả, cần phải thấy rằng, ASXH không loại trừ được sự nghèo túng mà chỉ có tác dụng góp phần đẩy lùi nghèo túng, góp phần vào việc thúc đẩy TBXH. Cuốn sách An sinh xã hội ở Việt Nam hướng tới 2020 [105] của tác giả Vũ Văn Phúc đã phân tích những vấn đề lý luận và thực tiễn về ASXH ở Việt Nam trong những năm đổi mới; trong đó, chỉ ra những thành tựu, vai trò của ASXH đối với sự phát triển xã hội cũng như những hạn chế, yếu kém còn tồn tại và định hướng xây dựng hệ thống ASXH ở Việt Nam đến năm 2020. Cuốn sách Về an sinh xã hội ở Việt Nam giai đoạn 2012 – 2020 [26] của tác giả Mai Ngọc Cường đã phân tích thực trạng phát triển ASXH ở Việt Nam hiện nay, đồng thời phân tích vai trò của hệ thống ASXH đối với các lĩnh vực của đời sống xã hội. Cuốn sách còn giới thiệu kinh nghiệm của một số nước trong việc
  24. 24. 24 phát triển hệ thống ASXH nhằm tăng cường vai trò của nó trong đời sống xã hội, thúc đẩy sự tiến bộ xã hội. Cuốn sách Phát triển hệ thống an sinh xã hội Việt Nam đến năm 2020 [75], do Nguyễn Thị Lan Hương (chủ biên) xuất bản năm 2014, đã cung cấp một số thông tin cơ bản về tình hình thực hiện ASXH năm 2013 và đi sâu phân tích những hạn chế và định hướng chính sách nhằm khắc phục những bất cấp đang tồn tại. Đối với lĩnh vực chính sách BHXH, một trong những trụ cột chính của hệ thống chính sách ASXH, nhóm nghiên cứu đưa ra 5 tồn tại và 5 khuyến nghị hoàn thiện chính sách. Cụ thể, loại hình BHXH bắt buộc, với các quy định của pháp luật hiện hành đã nảy sinh một số bất cập như mức độ tuân thủ của các doanh nghiệp không cao, nguy cơ mất cân đối quỹ lớn và phạm vi hưởng hưu trí còn thấp (chỉ 21% người từ 60 tuổi trở lên có lương hưu). Với loại hình BHXH tự nguyện, số người tham gia còn rất thấp, nông dân, lao động trẻ tham gia chưa nhiều. Với loại hình BHTN, phạm vi bao phủ còn hẹp, chỉ giới hạn ở người lao động trong các doanh nghiệp có sử dụng từ 10 lao động trở lên. Để giải quyết những tồn tại trên, nhóm nghiên cứu đưa ra khuyến nghị: với BHXH bắt buộc, cần tăng cường chế tài; từng bước điều chỉnh tuổi nghỉ hưu hưởng BHXH; cải thiện tình hình đầu tư tăng trưởng quỹ. Với BHXH tự nguyện, xây dựng chính sách khuyến khích nông dân, người lao động khu vực phi chính thức tham gia. Với BHTN, cần mở rộng diện tham gia không phân biệt quy mô lao động của doanh nghiệp. Đây là tài liệu quan trọng để nghiên cứu về vai trò của ASXH đối với TBXH ở Việt Nam trong những năm đổi mới. Đề tài Cơ sở khoa học của việc xây dựng sàn an sinh xã hội ở Việt Nam giai đoạn 2011 - 2020 [162], mã số KX.02.07/11-15 của Viện Khoa học Lao động và Xã hội đã phân tích mục tiêu của việc xây dựng sàn ASXH. Theo đó, s ảm bảo quyền cơ bản của con người về thu nhập tối thiểu; y tế cơ bản; giáo dục cơ bản; nhà ở, nước sạch, nhà vệ sinh; đặc biệt đối
  25. 25. 25 với người yếu thế ối tượng chính (i. Trẻ em; ii. Người dân trong tuổi lao động nhưng thu nhập từ việc làm không đảm bảo được mức sống tối thiểu; và iii. Người cao tuổi). Đề tài đã phân tích những kết quả và hạn chế của việc xây dựng sàn ASXH ở Việt Nam những năm qua. Những phân tích này cho thấy rõ vai trò của ASXH đối với TBXH. Những kết quả nghiên cứu của đề tài sẽ được kế thừa trong quá trình thực hiện luận án. Trong bài Bảo đảm ngày càng tốt hơn an sinh xã hội và phúc lợi xã hội là nội dung chủ yếu của Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 2011-2020 [40], nguyên Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng nhấn mạnh rằng, trong việc thực hiện Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 2001 - 2010, công tác bảo đảm an sinh xã hội và phúc lợi xã hội đã đạt được nhiều kết quả quan trọng. Hệ thống các chính sách an sinh xã hội và phúc lợi xã hội ngày càng đồng bộ và hoàn thiện trên các lĩnh vực: Xóa đói giảm nghèo, giải quyết việc làm, phát triển hệ thống bảo hiểm, ưu đãi người có công với nước, trợ giúp xã hội (TGXH), mở rộng các dịch vụ xã hội công cộng, tạo điều kiện để người dân được hưởng thụ nhiều hơn về văn hóa, y tế và giáo dục. Cùng với nguồn lực không ngừng tăng lên và những nỗ lực trong tổ chức thực hiện, ASXH và phúc lợi xã hội ngày càng được bảo đảm tốt hơn, góp phần quan trọng vào nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân, ổn định và phát triển kinh tế - xã hội của đất nước. Đặt trọng tâm vào công tác xóa đói, giảm nghèo, cùng với việc đẩy mạnh phát triển kinh tế, xã hội để nâng cao mức sống chung của nhân dân, Đảng và Nhà nước đã ban hành và tập trung chỉ đạo thực hiện nhiều chính sách, chương trình, dự án và huy động nguồn lực của toàn xã hội để trợ giúp người nghèo, vùng nghèo vượt qua khó khăn, vươn lên thoát nghèo. Các chính sách và giải pháp xóa đói giảm nghèo được triển khai đồng bộ trên cả 3 phương diện: (1) Giúp người nghèo tăng khả năng tiếp cận các dịch vụ công cộng, nhất là về y tế, giáo dục, dạy nghề, trợ giúp pháp lý, nhà ở, nước sinh hoạt; (2) Hỗ trợ phát triển
  26. 26. 26 sản xuất thông qua các chính sách về bảo đảm đất sản xuất, tín dụng ưu đãi, khuyến nông - lâm - ngư, phát triển ngành nghề; (3) Phát triển cơ sở hạ tầng thiết yếu cho các xã, thôn, bản đặc biệt khó khăn. Đến nay công tác xóa đói giảm nghèo đã đạt được nhiều thành tựu nổi bật, được nhân dân đồng tình, quốc tế đánh giá cao: Số hộ nghèo giảm từ 29% (năm 2002) xuống còn khoảng 10% (năm 2010); chênh lệch mức sống giữa thành thị và nông thôn giảm từ 2,3 lần (năm 1999) xuống còn 2 lần (năm 2008). Đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân được nâng lên rõ rệt. Việc thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia về việc làm với nhiều chính sách trợ giúp thiết thực, hàng năm giải quyết được hơn 1,6 triệu việc làm mới cho người lao động, giảm tỷ lệ lao động thất nghiệp ở thành thị từ 6,42% (năm 2000) xuống còn khoảng 4,6% (năm 2010), tăng thời gian sử dụng lao động ở nông thôn, góp phần nâng cao thu nhập và đời sống cho nhân dân. Thu nhập thực tế bình quân đầu người 10 năm qua tăng khoảng 2,3 lần. Hệ thống bảo BHXH và BHYT được quan tâm phát triển với nội dung và hình thức ngày càng phong phú, nhằm chia sẻ rủi ro và trợ giúp thiết thực cho những người tham gia. Bảo hiểm xã hội được triển khai đồng bộ với 3 loại hình là: Bảo hiểm bắt buộc, bảo hiểm tự nguyện và bảo hiểm thất nghiệp. Số người tham gia bảo hiểm bắt buộc tăng nhanh, từ 4,8 triệu (năm 2001) lên 9,4 triệu (năm 2009), chiếm 18% tổng số lao động. Sau gần 3 năm triển khai bảo hiểm xã hội tự nguyện, đến năm 2010 có khoảng 96,6 nghìn người tham gia. Dự kiến đến cuối năm 2020 có khoảng 5,8 triệu người tham gia BHTN. Bảo hiểm y tế tăng nhanh từ 13,4% dân số (năm 2000) lên khoảng 62% (năm 2010). Đặc biệt, đã thực hiện chính sách BHYT miễn phí cho trẻ em đến 6 tuổi, một số đối tượng chính sách, người nghèo và hỗ trợ BHYT cho các hộ cận nghèo,... Với bài viết Xây dựng và hoàn thiện hệ thống an sinh xã hội - một công cụ quan trọng nhằm thực hiện công bằng xã hội ở nước ta [120], tác giả Phạm Thị Ngọc Trầm đã luận chứng rằng, hệ thống ASXH mạnh là một công
  27. 27. 27 cụ quan trọng góp phần thực hiện công bằng xã hội. Việc xây dựng và hoàn thiện hệ thống ASXH có vai trò và ý nghĩa to lớn đối với mỗi cá nhân cũng như cộng đồng và toàn thể xã hội. Đó là một nhiệm vụ cấp bách và thiết thực nhằm thực hiện công bằng xã hội, bảo đảm cuộc sống an toàn cho mọi người dân, sự ổn định và phát triển bền vững của xã hội. 1.2. CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU THỰC TRẠNG VAI TRÒ CỦA AN SINH XÃ HỘI ĐỐI VỚI TIẾN BỘ XÃ HỘI Ở VIỆT NAM Trong cuốn An sinh xã hội đối với nông dân trong điều kiện kinh tế thị trường ở Việt Nam [3], tác giả Mai Ngọc Anh đã phân tích cơ sở lý luận và thực tiễn của việc hoàn thiện hệ thống ASXH đối với nông dân trong điều kiện kinh tế thị trường; tổng kết kinh nghiệm xây dựng và hoàn thiện hệ thống ASXH đối với nông dân ở một số nước trên thế giới, rút ra kinh nghiệm có thể vận dụng vào xây dựng hệ thống ASXH nước ta; khái quát thực trạng hệ thống ASXH ở nước ta, chỉ ra những thành tựu, hạn chế, nguyên nhân hạn chế của hệ thống ASXH đối với nông dân; sử dụng ma trận SWOT làm rõ những thuận lợi, khó khăn, cơ hội và thách thức; trên cơ sở đó, đề xuất các phương án xây dựng và hoàn thiện hệ thống ASXH đối với nông dân ở nước ta những năm tới; đồng thời đưa ra một số giải pháp nhằm xây dựng và hoàn thiện hệ thống ASXH đối với nông dân trong điều kiện kinh tế thị trường. Trong Chiến lược an sinh xã hội 2011 - 2020 [17] của Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội đã đánh giá thực trạng ASXH thời kỳ 2001 - 2010, chỉ ra năm tồn tại cơ bản là: Thứ nhất, quan điểm và nhận thức về ASXH còn chưa đầy đủ, nhiều chính sách thiết kế còn chưa phù hợp, mức độ tuân thủ pháp luật của các bên tham gia còn yếu; các chế tài xử phạt chưa đủ mạnh, mang nặng tính bao cấp của Nhà nước, chưa hướng vào các giải pháp nhằm nâng cao năng lực tự chống đỡ cho người dân; thứ hai, hệ thống chính sách ASXH chưa đầy đủ, thiếu sự liên kết và hỗ trợ, chồng chéo làm giảm hiệu quả vốn đầu tư. Một số chính sách ASXH chưa thực sự đến được với dân cư ở
  28. 28. 28 những vùng nông thôn, vùng sâu, vùng xa; chưa bổ sung kịp thời các chính sách mới để đảm bảo ổn định cuộc sống và an sinh cho người dân; thứ ba, mức độ bao phủ của hệ thống ASXH còn thấp, đối tượng còn hẹp. Hệ thống chính sách ASXH còn bất bình đẳng. Một tỷ lệ lớn nguồn lực của ASXH phân phối cho nhóm đối tượng chính sách xã hội và khu vực chính thức; thứ tư, nguồn đầu tư cho ASXH của Nhà nước chưa đáp ứng được yêu cầu ngày càng tăng của ASXH; cơ chế tài chính còn nhiều bất cập. Khả năng bền vững tài chính của các chính sách ASXH chưa cao; thứ năm, quản lý nhà nước về ASXH còn nhiều bất cập, thiếu một hệ thống giám sát đánh giá hiệu quả. Trong cuốn An sinh xã hội ở Việt Nam hướng tới 2020 [105], tác giả Vũ Văn Phúc đã phân tích những vấn đề thực tiễn về ASXH ở nước ta, bao gồm những thành tựu đạt được cũng như những hạn chế, yếu kém còn tồn tại và định hướng xây dựng hệ thống ASXH ở Việt Nam từ nay đến năm 2020. Trong bài An sinh xã hội ở Việt Nam: Những quan điểm và cách tiếp cận cần thống nhất [46], tác giả Nguyễn Trọng Đàm đã phân tích thực trạng hệ thống ASXH ở nước ta; chỉ ra một số hạn chế cần khắc phục và đưa ra quan điểm, cách tiếp cận, giải pháp giải quyết vấn đề ASXH giai đoạn 2012 - 2020. Tác giả Phạm Xuân Nam với bài An sinh xã hội ở Việt Nam trong thời kỳ đổi mới [97], đã cho rằng, thời kỳ trước đổi mới, do nhiều nguyên nhân mà chủ yếu là do thực hiện những chủ trương, chính sách mang nặng tính chủ quan, duy ý chí trong cải tạo xã hội chủ nghĩa và xây dựng chủ nghĩa xã hội theo một mô hình cũ đã lỗi thời, cho nên nước ta đã lâm vào khủng hoảng kinh tế - xã hội trầm trọng. Trong điều kiện như vậy, việc bảo đảm ASXH chỉ có thể bó hẹp trong một số chế độ trợ cấp ở mức thấp cho những người có công với cách mạng, cho thương bệnh binh và gia đình liệt sĩ… Trong thời kỳ đổi mới đất nước, cùng với thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội, sự nghiệp bảo đảm ASXH ở nước ta đã đạt được những thành tựu rất đáng khích lệ, tuy vẫn còn những hạn chế yếu kém nhất định.
  29. 29. 29 Trong cuốn Chính sách an sinh xã hội và vai trò của Nhà nước trong việc thực hiện chính sách an sinh xã hội ở Việt Nam [29], trên cơ sở nghiên cứu thực trạng chính sách ASXH ở Việt Nam trong 30 năm thực hiện đường lối đổi mới đất nước, tác giả Nguyễn Văn Chiều đã chỉ ra rằng trong giai đoạn vừa qua, nhiều chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước đã được triển khai có hiệu quả, góp phần quan trọng vào quá trình phát triển kinh tế với bảo đảm công bằng và TBXH. Tuy nhiên, theo tác giả, các chính sách ASXH của nước ta vẫn còn bộc lộ những hạn chế nhất định. Đề tài khoa học cấp Bộ: Đảm bảo an sinh xã hội: Định hướng mô hình và giải pháp, do Đặng Nguyên Anh làm chủ nhiệm [2], dựa trên khảo sát xã hội học, thu thập và phân tích số liệu ở các cấp, đề tài đã phân tích thực trạng ASXH của Việt Nam, trong đó trọng tâm là bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, lương hưu, trợ giúp xã hội (thường xuyên và không thường xuyên) và vấn đề đảm bảo các dịch vụ xã hội cơ bản (giáo dục, y tế, thông tin, việc làm). Những khó khăn, bất cập được đi sâu tìm hiểu và phân tích đánh giá nhằm định vị mô hình ASXH ở Việt Nam hiện nay và trong 5 - 10 năm tới. Tuy nhiên, những số liệu này cần nhìn nhận thêm ở những góc độ khác nhau. Trong bài An sinh xã hội 25 năm đổi mới: Thành tựu và những vấn đề đặt ra [27], tác giả Mai Ngọc Cường cho rằng, sau 25 năm đổi mới, hệ thống an sinh xã hội (ASXH) ở nước ta ngày càng hoàn thiện và có đóng góp quan trọng vào việc ổn định và phát triển kinh tế - xã hội, nhưng vẫn còn không ít bất cập. Hệ thống ASXH đang trong quá trình hình thành, chưa đồng bộ, một số chương trình tính khả thi thấp. Mức độ bao phủ, mức độ tác động của các chương trình ASXH nhìn chung chưa cao; nguồn tài chính thực hiện các chương trình ASXH thiếu tính bền vững, vì: Thứ nhất, hệ thống văn bản pháp luật chưa đầy đủ và chưa hoàn thiện; thứ hai, mức tham gia BHXH thấp hoặc không có khả năng tham gia hệ thống ASXH; hệ thống chính sách trợ giúp về việc làm, thất nghiệp, xóa đói giảm nghèo… chậm được nối kết vào hệ thống
  30. 30. 30 tổng thể về ASXH dẫn đến sự trùng chéo, chưa đáp ứng được yêu cầu; thứ ba, năng lực tổ chức thực hiện chính sách ASXH chưa theo kịp với yêu cầu. Mô hình chính sách, tổ chức hoạt động, phục vụ thiếu đa dạng; nguồn tài chính cho ASXH còn thấp; thiếu các chế tài buộc doanh nghiệp thực hiện nghĩa vụ đóng góp BHXH, BHYT cho người lao động; công tác thanh tra, kiểm tra, giám sát, xử lý vi phạm các quy định về ASXH chưa thường xuyên; sự phối hợp giữa ngành chủ quản với cơ quan quản lý nhà nước và các địa phương chưa chặt chẽ; đội ngũ cán bộ làm công tác ASXH còn thiếu về số lượng và yếu về tính chuyên nghiệp. Ngoài những công trình trên, còn có những công trình nghiên cứu những khía cạnh khác nhau về thực trạng ASXH. Chẳng hạn, bài Nỗ lực phấn đấu thực hiện có hiệu quả chính sách an sinh xã hội [100]; Chiến lược an sinh xã hội Việt Nam thời kỳ 2011 - 2020 [74]; Hệ thống chính sách an sinh xã hội ở nước ta trong giai đoạn phát triển mới [44]; Vai trò của chính sách bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế đối với an sinh xã hội của đất nước [71]; Tiếp tục thực hiện tốt chính sách ưu đãi người có công với nước ta hiện nay và định hướng đến năm 2020 [35]… Trong những năm qua đã có nhiều công trình nghiên cứu về ASXH. Các nhà khoa học đã đề cập ASXH dưới nhiều cách tiếp cận từ lý luận đến thực tiễn, dưới giác độ triết học, xã hội học, kinh tế học… Tuy nhiên, chưa có công trình nào đi sâu nghiên cứu về thực trạng vai trò của ASXH đối với TBXH từ góc độ triết học. Đây là vấn đề sẽ được tập trung nghiên cứu sâu trong luận án này. 1.3. NHỮNG CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU VỀ CÁC GIẢI PHÁP PHÁT HUY VAI TRÒ CỦA AN SINH XÃ HỘI ĐỐI VỚI TIẾN BỘ XÃ HỘI Ở VIỆT NAM HIỆN NAY Trong cuốn Lý thuyết và mô hình an sinh xã hội (phân tích thực tiễn ở Đồng Nai) [110], các tác giả Phạm Văn Sáng, Ngô Quang Minh, Bùi Văn Huyền, Nguyễn Anh Dũng đã phân tích và đưa ra những nhận định, giải pháp,
  31. 31. 31 góp phần xây dựng hoàn thiện hệ thống chính sách ASXH ở Việt Nam. Chẳng hạn, giải pháp bảo đảm ASXH thông qua BHXH; giải pháp bảo đảm ASXH thông qua y tế; giải pháp bảo đảm ASXH thông qua trợ cấp xã hội (TCXH) và xóa đói giảm nghèo. Những giải pháp này là gợi ý quan trọng để luận án đưa ra những giải pháp nhằm phát huy vai trò của ASXH đối với TBXH ở Việt Nam hiện nay. Cuốn sách Xây dựng và hoàn thiện hệ thống chính sách an sinh xã hội ở Việt Nam [23] của tác giả Mai Ngọc Cường đã khái quát, phân tích và đề xuất những phương hướng và giải pháp nhằm hoàn thiện hệ thống chính sách ASXH tiến tới xây dựng mô hình ASXH phù hợp với điều kiện kinh tế thị trường định hướng XHCN, đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước. Những phương hướng cơ bản mà cuốn sách nêu ra như: Xây dựng và hoàn thiện hệ thống chính sách ASXH ở Việt Nam phải đảm bảo tính cơ bản, toàn diện, bền vững, đa tầng và linh hoạt với cơ chế, chính sách phù hợp vẫn là những phướng hướng cơ bản để xây dựng và hoàn thiện hệ thống ASXH ở nước ta hiện nay. Cuốn sách cũng nêu ra các giải pháp để xây dựng và hoàn thiện hệ thống ASXH ở nước ta hiện nay, bao gồm: Đẩy mạnh xây dựng và hoàn thiện pháp luật về ASXH; hoàn thiện cơ chế tài chính cho ASXH; hoàn thiện tổ chức, quản lý của hệ thống ASXH; nâng cao nhận thức xã hội về ASXH; nâng cao năng lực đội ngũ cán bộ thực thi chính sách ASXH; phối hợp xây dựng, hoàn thiện và thực hiện chính sách ASXH với xây dựng, hoàn thiện và thực hiện các chính sách kinh tế - xã hội khác; tăng cường vai trò của nhà nước trong việc xây dựng và hoàn thiện hệ thống chính sách ASXH… Việc nghiên cứu những giải pháp này có thể đánh giá tính hiệu quả, thiết thực của các giải pháp về xây dựng và hoàn thiện hệ thống chính sách về ASXH ở nước ta những năm qua, từ đó rút ra bài học kinh nghiệm cho việc xây dựng và hoàn thiện về hệ thống ASXH trong thời gian tới. Có thể nói, với những nội dung đã được trình bày, cuốn sách là tài liệu tham khảo hữu ích đối với các nhà nghiên cứu quan
  32. 32. 32 tâm đến vấn đề này cũng như đối với các nhà quản lý, hoạch định chính sách. Chiến lược an sinh xã hội 2011 - 2020 [17] của Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội đã đưa ra 11 nhóm giải pháp cơ bản để thực hiện chiến lược an sinh xã hội thời kỳ 2011 - 2020, bao gồm: Nhóm giải pháp hoàn thiện hệ thống chính sách hỗ trợ người dân có việc làm, nâng cao thu nhập và tham gia thị trường lao động; nhóm giải pháp hoàn thiện chính sách hỗ trợ người dân tham gia BHXH; nhóm giải pháp hoàn thiện chính sách hỗ trợ người dân tham gia BHYT; nhóm giải pháp hoàn thiện chính sách TGXH; nhóm giải pháp về giảm nghèo; nhóm giải pháp tăng cường tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản cho các đối tượng và vùng đặc thù; nhóm giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước về ASXH; nhóm giải pháp nâng cao nhận thức của các cấp, các ngành và người dân về ASXH; nhóm giải pháp huy động sự tham gia của các đối tác xã hội trong thực hiện ASXH; thúc đẩy hợp tác quốc tế trong lĩnh vực ASXH; phát triển hệ thống giám sát đánh giá thực hiện chiến lược ASXH. Cuốn sách Đảng lãnh đạo thực hiện chính sách xã hội trong thời kỳ đổi mới của tác giả Nguyễn Thị Thanh [112], đã phân tích một số vấn đề đặt ra đối với việc thực hiện chính sách xã hội ở Việt Nam thời kỳ đổi mới; quá trình Đảng lãnh đạo thực hiện chính sách xã hội những năm đầu đổi mới, thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước; một số kinh nghiệm của Đảng trong lãnh đạo thực hiện chính sách xã hội. Những kinh nghiệm nêu ra trong cuốn sách góp phần cung cấp những luận cứ để luận án đề xuất những giải pháp phát huy vai trò của ASXH đối với TBXH ở Việt Nam hiện nay. Cuốn an sinh xã hội ở Việt Nam hướng tới 2020 của tác giả Vũ Văn Phúc [105], đưa ra nhiều giải pháp nhằm xây dựng và hoàn thiện hệ thống ASXH ở Việt Nam, vì sự phát triển bền vững của đất nước. Bằng cách tiếp cận hệ thống ASXH với hai bộ phận: An sinh xã hội đóng - hưởng và ASXH không đóng góp, cuốn sách phân tích thực trạng phát triển ASXH ở nước ta
  33. 33. 33 hiện nay, chỉ ra những thành tựu cũng như hạn chế và nguyên nhân hạn chế. Trên cơ sở phân tích bối cảnh thế giới và trong nước, quán triệt các mục tiêu, phương hướng và giải pháp thực hiện một số vấn đề chính sách xã hội, trong đó có chính sách ASXH giai đoạn 2012 - 2020 của Nghị quyết số 15- NQ/TW ngày 01 tháng 06 năm 2012 của Ban Chấp hành Trung ương khoá XI và Nghị quyết số 70/NQ-CP ngày 01 tháng 11 năm 2012 của Chính phủ đã đưa ra, cuốn sách khuyến nghị một số vấn đề có ý nghĩa quan trọng để thực hiện chính sách ASXH ở nước ta những năm tới. Ngoài ra, cuốn sách còn có phần phụ lục giới thiệu kinh nghiệm của một số nước trong việc phát triển hệ thống ASXH để tham khảo trong nghiên cứu và hoạch định chính sách phát triển ASXH ở nước ta trong những năm tới. Đề tài khoa học cấp Nhà nước: Cơ sở khoa học xây dựng sàn an sinh xã hội ở Việt Nam giai đoạn 2011 - 2020, mã số KX.02.07/11-15 [162] do Doãn Mậu Diệp làm chủ nhiệm, trên cơ sở đề xuất 5 quan điểm cơ bản để xây dựng sàn ASXH phù hợp với các điều kiện kinh tế - xã hội, các tác giả đã đưa ra 6 nhóm giải pháp xây dựng sàn ASXH ở Việt Nam đến năm 2020, bao gồm các giải pháp: Tăng cường bảo đảm các chính sách sàn ASXH đối với trẻ em; tăng cường bảo đảm các chính sách sàn ASXH cho người lao động yếu thế; nghiên cứu và ứng dụng chương trình việc làm công; mở rộng đối tượng tham gia BHXH; tăng cường bảo đảm các chính sách sàn ASXH cho người cao tuổi; xây dựng bộ cơ sở dữ liệu hợp nhất cho các chính sách sàn ASXH; phát triển hệ thống theo dõi và đánh giá sàn ASXH. Đề tài khoa học cấp Bộ: Đảm bảo an sinh xã hội: Định hướng mô hình và giải pháp [2] do Đặng Nguyên Anh chủ nhiệm, đã đề xuất quan điểm mục tiêu và định hướng giải pháp nhằm hoàn thiện mô hình ASXH ở Việt Nam từ nay đến năm 2020, tầm nhìn 2030. Những đề xuất mô hình và lộ trình thực hiện được trình bày tại phần cuối của báo cáo tổng hợp với một số giải pháp cụ thể đối với BHXH, BHYT và bảo trợ xã hội là những trụ cột cơ bản của
  34. 34. 34 mô hình ASXH ở Việt Nam. Đây là một công trình nghiên cứu có giá trị khoa học với thông tin, số liệu phong phú đáng được tham khảo. Đề tài đã góp phần trả lời câu hỏi về hệ thống ASXH Việt Nam cần được điều chỉnh như thế nào, và mô hình giải pháp chính sách cần chú ý ra sao nhằm thực hiện mục tiêu đảm bảo ASXH và phát triển bền vững. Ngoài những công trình nêu trên, còn có nhiều công trình khác cũng nghiên cứu, đề xuất những giải pháp thực hiện ASXH ở những góc độ khác nhau. Chẳng hạn, trong cuốn Về an sinh xã hội ở Việt Nam giai đoạn 2012 – 2020 do Mai Ngọc Cường chủ biên [26], tác giả đã phân tích những vấn đề cơ bản về ASXH, đề xuất các phương hướng và giải pháp phát triển ASXH ở Việt Nam giai đoạn tới. Bài viết Tổ chức thực hiện bảo hiểm y tế đối với người nghèo - Thực trạng và giải pháp của tác giả Nguyễn Minh Hải [61]; Góp phần xây dựng hệ thống an sinh xã hội tổng thể ở nước ta hiện nay của tác giả Trịnh Duy Luân [88]; Cơ sở khoa học của việc xây dựng, hoàn thiện hệ thống chính sách an sinh xã hội ở nước ta giai đoạn 2006-2015 Kỷ yếu Hội thảo Khoa học thuộc đề tài KX02-02/06-10 [6]; An sinh xã hội trong Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội thời kỳ 2011-2020 đăng trên Tạp chí Lao động và Xã hội của tác giả Nguyễn Hữu Dũng [38]; An sinh xã hội đối với nông dân trong điều kiện kinh tế thị trường ở Việt Nam - sách chuyên khảo của tác giả Mai Ngọc Anh [3]; Bảo đảm an sinh xã hội dưới ánh sáng Đại hội XI của Đảng của tác giả Dương Văn Thắng [115]; Nghèo ở Việt Nam - những thách thức và giải pháp; Tính ưu việt của Luật Bảo hiểm xã hội, Luật Bảo hiểm y tế - thách thức trong triển khai và giải pháp đảm bảo an sinh xã hội của tác giả Bùi Sĩ Lợi đăng trên Tạp chí Cộng sản [85; 86]; Báo cáo của các bộ, ngành “Việc thực hiện chính sách, pháp luật về giảm nghèo, giai đoạn 2005 - 2012” [155]… Những kết quả nghiên cứu sẽ được chúng tôi kế thừa trong quá trình thực hiện luận án.
  35. 35. 35 TIỂU KẾT CHƢƠNG 1 1. Nhận xét chung về các công trình khoa học đã đề cập Một là, hầu hết các công trình nghiên cứu đã đề cập và phân tích những vấn đề lý luận về ASXH cũng như vai trò của nó đối với TBXH. Mặc dù có những cách tiếp cận khác nhau, song tựu trung lại, ASXH được hiểu theo hai nghĩa: Theo nghĩa rộng, ASXH là toàn bộ các bộ các biện pháp của nhà nước, cộng đồng, cá nhân nhằm đảm bảo cuộc sống cho người dân trong toàn xã hội; theo nghĩa hẹp, ASXH hướng tới sự đảm bảo tối thiểu cho mục tiêu mưu sinh của một bộ phận dân cư thuộc nhóm yếu thế, gặp rủi ro hay chịu thiệt thòi trong xã hội. Về vai trò của ASXH đối với TBXH, đa số các tác giả tuy đã có đề cập và đều thống nhất ở điểm chung khi cho rằng ASXH đảm bảo sự phát triển bền vững của xã hội, ổn định chính trị - xã hội, góp phần vào xây dựng nguồn nhân lực, thể hiện tính nhân văn cao cả… nhưng chưa có sự phân tích hệ thống từ góc độ triết học. Hai là, các tác giả đã có cái nhìn khá toàn diện về cấu trúc, mô hình của ASXH, tạo nên bức tranh tổng quát về ASXH và chính sách ASXH đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội trong thời kỳ đổi mới, toàn cầu hóa và chủ động hội nhập quốc tế. Các công trình đã phản ánh khá sâu sắc và rõ nét về những thành tựu ASXH trong 30 năm đổi mới đất nước… nhưng chưa phân tích làm nổi bật vai trò của những thành tựu ấy đối với TBXH dưới góc độ triết học. Ba là, các công trình nghiên cứu đã chỉ ra những bài học kinh nghiệm đối với việc xây dựng hệ thống chính sách và thực tiễn giải quyết vấn đề ASXH ở các quốc gia trên thế giới. Những bài học này có giá trị tham khảo cho việc xây dựng và hoàn thiện hệ thống ASXH ở Việt Nam. Bốn là, các công trình nghiên cứu đã chỉ ra những hạn chế về nhận thức, về hệ thống chính sách ASXH và thực hiện ASXH trên nhiều lĩnh vực. Do vậy, nhiều công trình nghiên cứu đã đề xuất những quan điểm, giải pháp góp phần thay đổi nhận thức, cách thực hiện nhằm nâng cao hiệu quả, phát huy tốt vai trò của ASXH trong những năm tiếp theo.
  36. 36. 36 Mặc dù vậy, những công trình trên đây chủ yếu mới đề cập đến từng khía cạnh của ASXH ở góc độ xã hội học, kinh tế học, luật học, quản lý xã hội, v.v.. chưa luận giải một cách có hệ thống và khái quát từ góc độ triết học về vai trò của ASXH đối với TBXH, nên những quan điểm, giải pháp nêu ra vẫn còn có những hạn chế nhất định, chưa làm thay đổi căn bản nhận thức tổng thể, cách thức xây dựng mô hình ASXH phù hợp với yêu cầu của sự phát triển xã hội Việt Nam hiện nay. 2. Hƣớng nghiên cứu của luận án Trên cơ sở kế thừa những kết quả của các nhà nghiên cứu trước đó, từ góc độ triết học luận án sẽ hướng tới việc giải quyết các vấn đề sau: Một là, hệ thống hoá, phân tích các khái niệm về ASXH, TBXH và làm rõ những biểu hiện cụ thể vai trò của ASXH đối với TBXH ở Việt Nam hiện nay. Hai là, phân tích chỉ rõ thực trạng vai trò của ASXH đối với TBXH ở Việt Nam hiện nay. Ba là, đề xuất một số giải pháp cơ bản nhằm phát huy vai trò của ASXH đối với TBXH ở Việt Nam trong thời gian tới. Vai trò của ASXH đối với TBXH là một đề tài rộng và khó, được tiếp cận dưới các góc độ khác nhau, như triết học, xã hội học, kinh tế học, luật học… và nhận được sự quan tâm của nhiều nhà nghiên cứu trong và ngoài nước. Các công trình nghiên cứu về ASXH, TBXH đã đạt được nhiều kết quả quan trọng. Những kết quả đó từng bước làm sáng tỏ nhiều vấn đề lý luận và thực tiễn về vai trò của ASXH đối với TBXH, góp phần hình thành luận cứ khoa học để hoàn thiện đường lối của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước ta về ASXH trong điều kiện mới. Mặc dù vậy, đến nay, vẫn chưa có công trình nào nghiên cứu một cách có hệ thống từ góc độ triết học về vai trò của ASXH đối với TBXH ở Việt Nam hiện nay. Do đó, việc lựa chọn đề tài này để nghiên cứu là cần thiết và không trùng lặp với các công trình đi trước. Với những kết quả đạt được, các công trình nêu trên là tư liệu quan trọng mà luận án cần kế thừa một cách sáng tạo để có thể hoàn thành mục đích và nhiệm vụ của mình.
  37. 37. 37 Chƣơng 2 VAI TRÒ CỦA AN SINH XÃ HỘI ĐỐI VỚI TIẾN BỘ XÃ HỘI - MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN 2.1. AN SINH XÃ HỘI, TIẾN BỘ XÃ HỘI: KHÁI NIỆM VÀ MỘT SỐ NỘI DUNG CHỦ YẾU 2.1.1. An sinh xã hội: Khái niệm và nội dung chủ yếu 2.1.1.1. Khái niệm an sinh xã hội Trong xã hội, con người muốn tồn tại và phát triển trước hết phải ăn, mặc, ở, đi lại… Để thoả mãn những nhu cầu tối thiểu này, con người phải lao động, làm ra những sản phẩm cần thiết. Của cải xã hội càng nhiều, mức độ thỏa mãn nhu cầu càng cao, nghĩa là việc thỏa mãn nhu cầu phụ thuộc vào khả năng lao động của con người. Tuy nhiên, trong suốt cuộc đời, không phải khi nào con người cũng có thể lao động để tạo ra được thu nhập. Trái lại, có rất nhiều trường hợp khó khăn, bất hạnh, rủi ro xảy ra làm cho con người bị giảm, mất thu nhập hoặc do các điều kiện sinh sống khác; chẳng hạn, bị bất ngờ ốm đau, tai nạn, mất người nuôi dưỡng, tuổi già, tử vong… mà rơi vào hoàn cảnh khó khăn. Cuộc sống của con người cũng phụ thuộc vào điều kiện tự nhiên và môi trường sống. Những điều kiện tự nhiên và xã hội không thuận lợi đã khiến một bộ phận dân cư cần đến sự giúp đỡ nhất định để bảo đảm cuộc sống bình thường. Để tồn tại và phát triển, con người đã có nhiều biện pháp khác nhau để khắc phục khó khăn. Điều này được thể hiện thông qua vai trò của ASXH. An sinh xã hội là hình thức tập hợp (có tổ chức) các thành viên xã hội nhằm chống lại những biến cố rủi ro, bất hạnh của mỗi cá nhân. Nhờ sự tương hợp, đoàn kết trên tinh thần tương thân tương ái, thiện nguyện mà những rủi ro, biến cố, khó khăn của các cá nhân sẽ được chia sẻ trên phạm vi rộng giúp họ vượt qua khó khăn. Sự tương trợ dần dần được mở rộng và phát triển dưới nhiều hình thức khác nhau.
  38. 38. 38 Trong quá trình phát triển xã hội, đặc biệt là từ sau cuộc cách mạng công nghiệp, hệ thống ASXH đã có những cơ sở để hình thành và phát triển. Quá trình công nghiệp hoá làm cho đội ngũ những người làm công ăn lương tăng lên, cuộc sống của họ phụ thuộc chủ yếu vào thu nhập do lao động làm thuê đem lại. Sự hẫng hụt về tiền lương trong các trường hợp bị ốm đau, tai nạn, rủi ro, bị mất việc làm hoặc khi về già, đã trở thành mối đe dọa đối với cuộc sống bình thường của những người không có nguồn thu nhập nào khác ngoài tiền lương. Sự bắt buộc phải đối mặt với những nhu cầu thiết yếu hàng ngày đã buộc những người làm công ăn lương tìm cách khắc phục bằng những hành động tương thân, tương ái (lập các quỹ tương tế, các hội đoàn…); đồng thời, đòi hỏi giới chủ và nhà nước phải có trợ giúp bảo đảm cuộc sống cho họ. Vào nửa đầu của thế kỷ XIX, những manh nha về ASXH đã xuất hiện với việc Chính phủ Anh công bố “Luật cứu tế mới” năm 1834. Luật này công nhận cứu trợ xã hội là một lưới đỡ thấp nhất trong hệ thống ASXH và lầ đầu tiên trên thế giới hệ thống ASXH đã đực thực hiện dựa trên luật pháp, được điều tiết bởi luật pháp. Năm 1850, lần đầu tiên ở Đức, nhiều bang đã thành lập quỹ ốm đau và yêu cầu công nhân phải đóng góp để dự phòng khi bị giảm thu nhập vì bệnh tật. Từ đó, xuất hiện hình thức bắt buộc đóng góp. Lúc đầu chỉ có giới thợ tham gia, dần dần các hình thức bảo hiểm mở rộng ra cho các trường hợp rủi ro nghề nghiệp, tuổi già và tàn tật. Đến những năm 80 của thế kỷ XIX, an sinh xã hội (lúc này là BHXH) đã mở ra hướng mới. Sự tham gia là bắt buộc và không chỉ người lao động đóng góp mà giới chủ và nhà nước cũng phải thực hiện nghĩa vụ của mình (cơ chế ba bên). Tính chất đoàn kết và san sẻ lúc này được thể hiện rõ nét: Mọi người, không phân biệt già - trẻ, nam - nữ, người khoẻ - người yếu mà tất cả đều phải tham gia đóng góp. Mô hình này của Đức đã lan dần ra châu Âu, sau đó sang các nước Mỹ Latin, rồi đến Bắc Mỹ và Canada vào những năm 30 của thế kỷ XX. Sau chiến tranh thế giới thứ hai, ASXH đã lan rộng sang các nước giành được độc lập ở châu Á, châu Phi và vùng Caribê. Ngoài BHXH, các hình thức truyền thống về
  39. 39. 39 tương tế, cứu trợ xã hội cũng tiếp tục phát triển để giúp đỡ những người có hoàn cảnh khó khăn, như những người già cô đơn, người tàn tật, trẻ em mồ côi, người goá bụa và những người không may gặp rủi ro vì thiên tai, hoả hoạn… Các dịch vụ xã hội như dịch vụ y tế, dự phòng tai nạn, dự phòng y tế tái thích ứng; dịch vụ đặc biệt cho người tàn tật, người già, bảo vệ trẻ em… được từng bước mở rộng ở các nước theo những điều kiện tổ chức, chính trị, kinh tế - xã hội, tài chính và quản lý khác nhau. Hệ thống ASXH được hình thành và phát triển rất đa dạng dưới nhiều hình thức khác nhau ở từng quốc gia, trong từng giai đoạn lịch sử, trong đó BHXH là trụ cột chính. Năm 1935, Mỹ đã đưa ra đạo luật về ASXH, đạo luật này quy định thực hiện chế độ bảo vệ tuổi già, chế độ tử tuất, tàn tật và trợ cấp thất nghiệp. Thuật ngữ ASXH được chính thức sử dụng. Đến năm 1941, trong Hiến chương Đại Tây Dương và sau đó Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO) chính thức dùng thuật ngữ này trong các công ước quốc tế. An sinh xã hội đã được tất cả các nước thừa nhận là một trong những quyền con người. Nội dung của ASXH đã được ghi nhận trong Tuyên ngôn nhân quyền do Đại hội đồng Liên hợp quốc thông qua ngày 10/12/1948. Trong bản Tuyên ngôn có viết: “Tất cả mọi người với tư cách là thành viên của xã hội có quyền hưởng ASXH. Quyền đó đặt cơ sở trên sự thoả mãn các quyền về kinh tế, xã hội và văn hoá cần cho nhân cách và sự tự do phát triển con người…”. Ngày 25/6/1952, Hội nghị toàn thể của ILO đã thông qua Công ước số 102, được gọi là Công ước về ASXH (tiêu chuẩn tối thiểu) trên cơ sở tập hợp các chế độ về ASXH đã có trên toàn thế giới thành 09 bộ phận. Tuy nhiên, cho đến nay, do tính chất phức tạp và đa dạng của ASXH nên vẫn còn nhiều nhận thức khác nhau về vấn đề này. Khái niệm về ASXH cũng còn khá khác biệt giữa các tổ chức, các quốc gia. Theo quan niệm của Liên hợp quốc, hệ thống ASXH bao gồm các bộ phận cấu thành sau: Thứ nhất, hệ thống BHXH (hưu trí, bảo hiểm y tế, chế độ trợ cấp, BHXH ngắn hạn).
  40. 40. 40 Thứ hai, hệ thống trợ giúp xã hội (trợ cấp xoá đói giảm nghèo, hỗ trợ xã hội nhóm yếu thế …). Thứ ba, hệ thống trợ cấp xã hội chung-Universal Social Benefit (trợ cấp gia đình, dịch vụ y tế công cộng, trợ cấp người cao tuổi…). Thứ tư, hệ thống trợ cấp tư nhân (Private Benefit System). [trích theo 106, tr. 63-64.] Tại Hội nghị trù bị về “An sinh xã hội ASEAN” từ ngày 28-29/6/2001 ở Singapore, các nhà khoa học đã đưa ra khái niệm mở rộng về ASXH. Về tổng thể, hệ thống ASXH bao gồm: Hệ thống BHXH và tiết kiệm: Bảo hiểm tai nạn công nghiệp, y tế, người già, thất nghiệp… Đó là hệ thống có sự tham gia đóng góp của các bên tạo nguồn dự trữ để sử dụng cho các trường hợp lúc tuổi già, ốm đau, thai sản, chết, tàn tật, thương tật, bệnh nghề nghiệp, thất nghiệp… Trợ giúp xã hội và những dịch vụ xã hội (trợ cấp). Đó là loại phúc lợi xã hội trích từ thuế và các nhà tài trợ. Chính sách thị trường lao động (bao gồm cả thị trường lao động tích cực và thụ động): tạo cơ hội việc làm; hình thành nguồn nhân lực; phát triển kỹ năng nghề nghiệp; tìm kiếm việc làm (thông tin, giới thiệu việc làm…); đào tạo lại; hỗ trợ tạo việc làm… Ngân hàng Thế giới cho rằng, ASXH là biện pháp công cộng nhằm giúp cho các cá nhân, hộ gia đình và cộng đồng đương đầu và kiềm chế được nguy cơ tác động đến thu nhập nhằm giảm tính dễ bị tổn thương và những bấp bênh thu nhập. Những năm gần đây, quốc tế đưa ra khái niệm mới gọi là lưới an toàn xã hội (Social Safety Net). Trong một công trình của mình, tác giả Mạc Văn Tiến có đề cập đến thuật ngữ ASXH được Tổ chức Lao động quốc tế (ILO) sử dụng chính thức trong Công ước số 102 - công ước quan trọng nhất quy định các tiêu chuẩn tối thiểu về ASXH. Công ước này được hội nghị toàn thể của ILO thông qua vào năm 1952. Theo đó, ASXH (Social security) được hiểu là sự bảo vệ của xã hội đối với các
  41. 41. 41 thành viên của mình thông qua một loạt biện pháp công cộng, nhằm chống lại những khó khăn về kinh tế và xã hội do bị ngừng hoặc giảm thu nhập, gây ra bởi ốm đau, thai sản, tai nạn lao động, thất nghiệp, thương tật, tuổi già và chết; đồng thời đảm bảo các chăm sóc y tế và trợ cấp cho các gia đình đông con [122, tr.12]. Khái niệm này của ILO thể hiện được bản chất, phương thức và mục đích của ASXH. Như vậy, về mặt nội dung, ASXH góp phần đảm bảo thu nhập và đời sống cho các công dân trong xã hội; phương thức hoạt động là thông qua các biện pháp công cộng; mục đích là tạo ra sự “an sinh” cho mọi thành viên trong xã hội và vì vậy, mang tính xã hội và tính nhân văn sâu sắc. Ngày nay, quan niệm về ASXH vẫn có sự khác nhau nhất định giữa các quốc gia, các tổ chức trên thế giới. Tuy nhiên, các quan niệm đó về nội dung, bản chất của ASXH đều có những điểm chung, đó là sự trợ giúp của xã hội đối với những người yếu thế hoặc gặp những rủi ro trong cuộc sống. Mục tiêu của ASXH là tạo ra một lưới an toàn gồm nhiều tầng, nhiều lớp bảo vệ cho tất cả mọi thành viên của cộng đồng trong những trường hợp bị giảm hoặc bị mất thu nhập hoặc phải tăng chi phí đột xuất trong chi tiêu của gia đình, do nhiều nguyên nhân khác nhau, như ốm đau, thương tật, già cả...gọi chung là những biến cố và những rủi ro xã hội... Qua đó, giúp họ hoà nhập và vươn lên trong cuộc sống, thúc đẩy gia đình và xã hội ổn định, phát triển theo hướng TBXH. Điều này là cơ sở để tạo ra sự nhận thức và hành động chung, thống nhất giữa các quốc gia trên thế giới. Thuật ngữ “an sinh xã hội” đã xuất hiện ở Việt Nam vào những năm 70 của thế kỷ XX trong một số cuốn sách nghiên cứu về pháp luật của một số học giả Sài Gòn. Sau năm 1975, thuật ngữ này được dùng nhiều và đặc biệt là từ năm 1995 trở lại đây nó được dùng rộng rãi hơn. Đảm bảo ASXH là một yêu cầu của sự phát triển bền vững, là mục tiêu hướng tới của nhiều quốc gia trên thế giới, cũng là một đòi hỏi cấp thiết đối với nước ta trong giai đoạn hiện nay. Ở Việt Nam, Đảng và Nhà nước đã có nhận thức rất sớm về chính sách ASXH và tiếp cận nó từ góc độ quyền con người.
  42. 42. 42 Hiến pháp năm 1946 đã xác định: “Người lao động được bảo đảm quyền việc làm, nghỉ ngơi, BHXH, cứu tế; phụ nữ được nghỉ trước khi đẻ…”. Hiến pháp năm 1992 đã nêu rõ trách nhiệm của Nhà nước trong việc đảm bảo xã hội cho mọi người. Trong đó nhấn mạnh, Nhà nước thực hiện chế độ BHXH đối với người công chức nhà nước và người làm công ăn lương, khuyến khích phát triển các hình thức BHXH khác đối với người lao động. Đại hội VII của Đảng có nhận thức rất mới về BHXH trong kinh tế thị trường; xác định phải đổi mới chính sách BHXH theo hướng: Mọi người lao động và đơn vị kinh tế thuộc các thành phần kinh tế đều được tham gia BHXH. Từng bước tách quỹ BHXH ra khỏi ngân sách Nhà nước và hình thành quỹ BHXH chung cho mọi người lao động thuộc mọi thành phần kinh tế, tách BHXH ra khỏi quản lý nhà nước và hình thành tổ chức BHXH Việt Nam. Nghị quyết Đại hội VIII đã xác định phải thực hiện và hoàn thiện chế độ BHXH, bảo đảm đời sống người nghỉ hưu được ổn định, từng bước được cải thiện… Đẩy mạnh các hoạt động nhân đạo, từ thiện. Thực hiện các chính sách bảo trợ trẻ mồ côi, lang thang cơ nhỡ, người già neo đơn, nạn nhân chiến tranh, người tàn tật. Giúp đỡ những người bị thiên tai và những rủi ro khác. Đặc biệt, Nghị quyết đã nhấn mạnh phải xây dựng luật BHXH, luật về bảo trợ người tàn tật và trẻ mồ côi. Đến Đại hội IX của Đảng, lần đầu tiên trong Nghị quyết đã sử dụng thuật ngữ ASXH và chủ trương: “Mở rộng hệ thống bảo hiểm xã hội và an sinh xã hội” [50, tr. 34]. Nhận thức về ASXH của Đảng ta đã rõ nét và toàn diện hơn, thể hiện trong Nghị quyết Đại hội X theo hướng xây dựng hệ thống ASXH đa dạng; phát triển mạnh hệ thống BHXH, BHYT, tiến tới BHYT toàn dân. Thực hiện tốt các chính sách ưu đãi xã hội (ƯĐXH) đối với người có công, người hưởng chính sách xã hội. Đa dạng hoá các loại hình cứu trợ xã hội. Nghị quyết Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng lần thứ 6 (khoá X) đã cụ thể hoá chủ trương của Đại hội X về phát triển hệ thống ASXH: Từng bước mở rộng và cải thiện hệ thống ASXH để đáp ứng ngày một tốt hơn nhu cầu đa dạng của mọi tầng lớp trong xã hội, nhất là của nhóm đối tượng chính sách, đối tượng nghèo; xây dựng hệ thống BHXH đa dạng và linh hoạt phù hợp với

×