O slideshow foi denunciado.
Seu SlideShare está sendo baixado. ×

An ninh moi truong

Anúncio
Anúncio
Anúncio
Anúncio
Anúncio
Anúncio
Anúncio
Anúncio
Anúncio
Anúncio
Anúncio
Anúncio
1
AN NINH MÔI TRƯỜNG
PGS.TS Nguyễn Đình Hòe, Khoa MT ĐHQG HN
1.An ninh truyền thống và sự mở rộng sang khái niệm an ninh m...
2
biệt hai khái niệm an ninh tập thể và an ninh chung. Khái niệm đầu gần với khái niệm
truyền thống hơn, ám chỉ những vấn ...
3
1989:162). Càng ngày càng có nhiều ý kiến công nhận là quốc gia không còn là đối
tượng duy nhất đang được bảo vệ an ninh...
Anúncio
Anúncio
Anúncio
Anúncio
Anúncio
Próximos SlideShares
An Ninh Môi Trường
An Ninh Môi Trường
Carregando em…3
×

Confira estes a seguir

1 de 27 Anúncio

Mais Conteúdo rRelacionado

Diapositivos para si (16)

Quem viu também gostou (16)

Anúncio

Mais recentes (20)

An ninh moi truong

  1. 1. 1 AN NINH MÔI TRƯỜNG PGS.TS Nguyễn Đình Hòe, Khoa MT ĐHQG HN 1.An ninh truyền thống và sự mở rộng sang khái niệm an ninh môi trường Từ trước tới nay, nói tới an ninh quốc gia, người ta chủ yếu chỉ quan tâm tới an ninh truyền thống, tức là tới chủ quyền dân tộc và toàn vẹn lãnh thổ chống lại sự xâm lược về quân sự từ các quốc gia khác. Điều này là nguyên nhân xuất hiện các mối liên minh và đầu tư vào quân sự với mục đích ngăn chặn những kẻ thù nguy hiểm, và để có sẵn một lực lượng vũ trang hùng hậu ngay khi cần thiết. Trong những năm gần đây, người ta đã chú trọng nhiều hơn tới việc mở rộng khái niệm truyền thống về an ninh sang những lĩnh vực được gọi là các nguy cơ mới như cạn kiệt nguồn tài nguyên thiên nhiên, vi phạm quyền con người, sự lan tràn của các căn bệnh truyền nhiễm, và nguy cơ xuống cấp môi trường do nhiễm độc, phá huỷ tầng ôzôn, hiện tượng trái đất nóng lên, ô nhiễm nguồn nước, đất đai xuống cấp và mất đa dạng sinh học (Ullman, 1983; Renner, 1989; Westing, 1989). Chính các ý kiến này đã thúc đẩy việc nghiên cứu mối quan hệ cụ thể giữa môi trường và an ninh. 1.1.Thời kỳ mở đầu: 1950 - 1990 Các nghiên cứu chính thức về môi trường và an ninh xuất hiện đầu tiên từ những năm 1950, mở đầu nhiều tranh luận về sự thay đổi của môi trường và an ninh mà trong đó khái niệm về an ninh môi trường được sử dụng không ít (Osborn, 1953; Brown, 1954; Spout and Sprout, 1971; Falk, 1971 vaf Ophuls, 1976). Tiếp theo các nghiên cứu này, vào năm 1977, Cục Tình báo Liên Bang của Mỹ (C.I.A) đã thiết lập một Trung tâm Môi trường để đánh giá mối liên hệ giữa môi trường và an ninh. Việc sử dụng chất diệt cỏ của quân đội Mỹ tại Việt Nam đã tập trung sự chú ý của quốc tế vào những thiệt hại về môi trường do chiến tranh gây ra. Văn bản bổ sung I cho Hiệp định Giơnevơ 1949 về Bảo vệ các Nạn nhân Chiến tranh Vũ trang Quốc tế (1977) là một trong hai hiệp ước đầu tiên có ý nghĩa đáng kể về môi trường, được đề xuất nhờ mối quan tâm của quốc tế tới sự xuống cấp môi trường nghiêm trọng ở Việt Nam. Thoả thuận mang tính chất nhân đạo này cho tới nay vẫn chưa được một số nước thông qua, trong đó có Mỹ, Pháp và Anh, mặc dù hầu hết các mục tiêu của nó không tập trung vào các vấn đề về môi trường có trong thoả thuận đó.(IUCN, 1999). Trong Hiệp định 1977 về Ngăn chặn Việc Sử dụng các Kỹ thuật làm Thay đổi Môi trường vì mục tiêu quân sự hay vì bất cứ mục tiêu thù địch nào khác (Hiệp định ENMOD), hiệp ước hậu chiến Việt Nam thứ hai, đã tiếp tục có nhiều cố gắng để xác định được những khái niệm chặt chẽ hơn cho việc ngăn chặn nguy cơ "tàn phá lâu dài, rộng rãi và nghiêm trọng môi trường tự nhiên". Vào những năm đầu thập kỷ 1980, nhiều tổ chức và cá nhân khác nhau đã bắt đầu đề cập tới những vấn đề an ninh nằm ngoài lĩnh vực quân sự có ảnh hưởng tới một quốc gia. Uỷ ban An ninh và Giải trừ quân bị Liên Hiệp quốc, do Olaf Palme làm chủ tịch, đã phân
  2. 2. 2 biệt hai khái niệm an ninh tập thể và an ninh chung. Khái niệm đầu gần với khái niệm truyền thống hơn, ám chỉ những vấn đề quân sự nội bộ một nước, trong khi đó khái niệm sau lại phản ánh một loạt những nguy cơ phi quân sự như chuyển đổi kinh tế, cạn kiệt nguồn tài nguyên, gia tăng dân số và xuống cấp môi trường. Tiếp theo đó là Xu hướng Chính trị Mới của Tổng thống Nga Mikhail Gorbachew ủng hộ khái niệm an ninh toàn diện, đặt nền móng cho chính trị toàn cầu. An ninh toàn diện bao gồm cả các mối đe doạ khác như chiến tranh hạt nhân, nạn đói và các vấn đề môi trường toàn cầu (IUCN, 1999). Cùng lúc đó, cũng có nhiều tác giả khác nêu ra vấn đề mở rộng khái niệm an ninh sang các nguy cơ phi quân sự. Richard Ullman là một ví dụ, ông đã đưa ra định nghĩa sau đây cho các mối đe doạ về an ninh: Một mối đe doạ cho an ninh quốc gia là một hành động hay một chuỗi các sự kiện mà: 1) đe doạ gây tổn hại trầm trọng trong một khoảng thời gian tương đối ngắn đến chất lượng cuộc sống của người dân trong quốc gia đó 2) đe doạ làm thu hẹp đáng kể phạm vi chọn lựa các chính sách của chính phủ của một quốc gia hoặc của các đơn vị tư nhân hay phi chính phủ (một người, nhóm người hay một tổ chức) nằm trong quốc gia đó (Ullman, 1983:133). Trong khi khái niệm về an ninh bó hẹp trong biên giới một quốc gia vẫn đang tồn tại, Ullman đã tìm cách mở rộng khái niệm về các mối đe doạ về an ninh ra ngoài khuôn khổ những vấn đề về chính trị truyền thống. Ý định mở rộng định nghĩa về an ninh tới các nguy cơ về môi trường không chỉ hạn chế trong nước Mỹ. Mặc dù Báo cáo Tương lai chung của chúng ta của Uỷ ban Quốc tế về Môi trường và Phát triển được biết đến nhiều nhất nhờ định nghĩa về phát triển bền vững, Uỷ ban cũng đã kêu gọi mọi người nhận thức rằng an ninh cũng một phần là chức năng của phát triển bền vững. Uỷ ban đã nêu bật vai trò của các áp lực về môi trường trong việc làm nảy sinh mâu thuẫn, đồng thời cũng tuyên bố rằng "một phương án an ninh quốc gia và quốc tế toàn diện phải vượt xa việc tập trung vào lực lượng quân sự và chạy đua vũ trang" (1987:290). Westing (1989) đã làm rõ thêm ý kiến này. Ông cho rằng an ninh toàn diện bao gồm hai bộ phận luôn khăng khít với nhau: an ninh chính trị, bao gồm các yếu tố quân sự, kinh tế và các yếu tố con người và an ninh môi trường, gồm có bảo vệ và sử dụng môi trường. Vụ rò rỉ hạt nhân ở Tréc-nô-bưn và kèm theo nó là những thiệt hại về con người và hệ sinh thái đã làm cho nhiều người đặt vấn đề sức khoẻ vào khuôn khổ của an ninh. Năm sau đó, Tổng thống Gorbachew đã đề nghị đưa an toàn sinh thái lên ưu tiên hàng đầu và đã góp phần xây dựng lòng tin của quốc tế vào khái niệm này. Bên cạnh việc kêu gọi mở rộng khái niệm cũ về những gì được coi là mối đe doạ cho an ninh, người ta cũng nhận thức được rằng chỉ tập trung vào an ninh quốc gia là quá hẹp. An ninh cần phải được hiểu ở những cấp độ chính trị rộng hơn (khu vực hay toàn cầu) hoặc hẹp hơn (cộng đồng hay vùng sinh thái) vì "đặc quyền qui ước của các quốc gia ít khi phù hợp với nhu cầu hợp tác khu vực và thiết lập chính sách toàn cầu" (Matthews,
  3. 3. 3 1989:162). Càng ngày càng có nhiều ý kiến công nhận là quốc gia không còn là đối tượng duy nhất đang được bảo vệ an ninh (Buzan, 1991). Giai đoạn đầu tiên trong các nghiên cứu về môi trường và an ninh đã khép lại gần như ngay sau khi Chiến tranh Lạnh kết thúc. Các bài báo của Jessica Matthews (1989) và Norman Myers (1989) đã tóm tắt hầu hết các cuộc tranh luận về việc mở rộng khái niệm an ninh. Cũng giống như các đóng góp khác trước đó, họ đặt ra hai vấn đề cơ bản. Thứ nhất, cần phải định nghĩa lại an ninh trong đó bao gồm cả một loạt các mối đe doạ mới như gia tăng dân số, cạn kiệt nguồn tài nguyên và môi trường xuống cấp. Thứ hai, công nhận đối tượng của an ninh không còn đơn thuần là một quốc gia, mà phải bao trùm cả cấp độ rộng hơn và hẹp hơn quốc gia. Ví dụ như Myers (1993) cho rằng an ninh đồng nghĩa với: An toàn cho con người: không chỉ là tránh khỏi bị sát hại hoặc bị thương mà còn phải có nước uống, thức ăn, nơi ở, sức khoẻ, việc làm và các yêu cầu thiết yếu khác mà mọi con người trên Trái đất này đều phải được hưởng. Tổng hợp nhu cầu của tất cả các công dân này - an toàn và chất lượng cuộc sống - sẽ là yếu tố nổi bật trong quan niệm về an ninh của mỗi quốc gia. Tương tự với các luận điểm của Uỷ ban Quốc tế về Môi trường và Phát triển, Myers ủng hộ việc chuyển từ khái niệm an ninh là "tránh khỏi các mối đe doạ khác" sang khái niệm an ninh là "tự do tiếp cận tới các dịch vụ về môi trường". 1.2.Thời kỳ thứ hai: sau 1990 đến nay Những tranh luận về quan hệ giữa môi trường và an ninh đã vượt ra khỏi phạm trù lý thuyết đơn thuần. Warren Christopher, Cựu Ngoại trưởng Mỹ đã nêu lên mối liên hệ giữa hai khái niệm một cách rõ ràng, "… các vấn đề về tài nguyên thiên nhiên thường có ảnh hưởng rất lớn đến mức độ ổn định kinh tế và chính trị của một quốc gia…" Cựu Bộ trưởng Quốc phòng Na Uy Johan Holst còn dứt khoát hơn với quan điểm "môi trường xuống cấp có thể coi là một phần của xung đột vũ trang vì nó làm các xung đột thêm nghiêm trọng hơn hoặc mở rộng quy mô của các cuộc xung đột đó". Dù chỉ là các tranh luận về lý thuyết hay trên chính trường thì chắc chắn vẫn còn một số lượng đáng kể những tranh luận về mối quan hệ giữa an ninh và môi trường. Như Dabelko và Simmons (1997) đã nhận xét, sự chưa thống nhất tồn tại không chỉ trong khuôn khổ các nguyên tắc mà còn ngay cả giữa các cơ quan của chính phủ. Thực tế, rất nhiều nhà nghiên cứu đã phải tránh dùng khái niệm an ninh, và chủ yếu tập trung vào các biến đổi của môi trường và sự thích nghi của xã hội và/hoặc xung đột vũ trang. 1.3.An ninh Môi trường là gì ? Một số tranh luận về mối quan hệ giữa an ninh và môi trường là kết quả của các cách hiểu khác nhau về khái niệm môi trường và an ninh. Hiện nay đang tồn tại một số định nghĩa sau đây về an ninh môi trường: - An ninh môi trường (hay an ninh của các dịch vụ có được do môi trường tự nhiên) - khái niệm này cũng có thể được hiểu là nguồn vốn tự nhiên bền vững bao gồm cả các lực lượng quân sự và tình báo quốc phòng với việc quản lý và thi hành các thoả ước môi trường quốc tế; cả việc thu thập thông tin, phân tích, xử lý và công bố các dữ liệu khoa học về môi trường tự nhiên; khắc phục và xử lý các khủng hoảng môi trường,
  4. 4. 4 các thiên tai; thực hiện các chương trình phát triển bền vững môi trường; đảm bảo tiếp cận được các nguồn tài nguyên thiên nhiên; chuyển hướng công nghệ sạch; bảo vệ các nguồn tài nguyên thiên nhiên, cảnh quan thiên nhiên. - An ninh môi trường là sự xuống cấp hay bị suy kiệt của môi trường do các hoạt động quân sự hoặc các xung đột vũ trang (do cách thực hiện các xung đột vũ trang và do các chất thải quân sự gây ra) - An ninh môi trường là môi trường xuống cấp và tài nguyên cạn kiệt dẫn đến nhiều mâu thuẫn gay gắt trong phát triển kinh tế - xã hội và quan hệ quốc tế. - An ninh môi trường là môi trường xuống cấp và tài nguyên cạn kiệt đe doạ phúc lợi quốc gia (và vì thế, cho cả an ninh quốc gia); và cần có sự can thiệp của các tổ chức có chủ quyền nhằm làm dịu bớt những tổn thất cho môi trường; - An ninh môi trường là khả năng môi trường có thể đáp ứng các chức năng cơ bản của con người một cách bền vững: cung cấp nơi ở, cung cấp năng lượng và nguyên liệu, khả năng chấp nhận chất thải, cung cấp thông tin khoa học và cung cấp các tiện nghi môi trường. Rõ ràng là các nghiên cứu về môi trường và an ninh còn chưa thực sự thống nhất. Giai đoạn đầu của bất kỳ một chương trình nghiên cứu khoa học hay một cuộc bàn luận về chính sách nào thường xuôn sẻ, nhưng tới khi bắt đầu cố gắng xây dựng một tập hợp các đường lối chỉ đạo chặt chẽ, người ta lại thường gặp phải bất đồng. Vì vậy, nhu cầu mở rộng mạng lưới nghiên cứu và đẩy mạnh thông tin liên lạc giữa các đơn vị nghiên cứu, các nhà hoạch định chính sách và các tổ chức phi chính phủ lại càng trở nên cần thiết. Và điều này cũng sẽ giúp cho việc làm rõ các khái niệm còn chưa được thống nhất. Tuy nhiên dù chưa thống nhất nhưng việc đưa các vấn đề môi trường vào nội dung an ninh là việc đang được quan tâm rộng rãi trên thế giới. Những tuyên bố của Hội nghị Thượng đỉnh về Môi trường Thế giới tại Johannesburg (Nam Phi) năm 2002 đã đưa khái niệm về an ninh môi trường lên một tầm quan trọng mới. Tuyên bố Johannesburg về Phát triển bền vững đã khẳng định mối liên kết chặt chẽ giữa Bảo vệ môi trường với xoá đói nghèo, với sự phồn vinh, an ninh và ổn định toàn cầu. 2.Quan hệ giữa An ninh Môi trường và các lĩnh vực gần gũi 2.1.An ninh Môi trường và xung đột vũ trang Khái niệm kinh điển đã từng tồn tại hàng thế kỷ chỉ coi an ninh là sự an toàn, không có xung đột vũ trang. Gần đây, sau hội nghị của Liên hiệp quốc về phát triển ở Stockholm năm 1972 và nhất là sau Rio 1992, nhiều nhà nghiên cứu đặc biệt nhấn mạnh những biến đổi của môi trường và nguồn tài nguyên cạn kiệt đóng vai trò là những nguyên nhân tiềm tàng gây xung đột mạnh mẽ (Homer - Dixon, 1991, 1994, Libiszewski, 1992; Bachler, 1994). Xung đột này, tiếp đó, lại là mối đe doạ nghiêm trọng cho an toàn của các cá nhân, các khu vực hay các quốc gia. Các bàn luận chung về thực chất của an ninh và vai trò của hiện tượng môi trường xuống cấp góp phần vào tình trạng kém an ninh và xung đột, đã được Levy (1995) nêu lên và được coi là làn sóng nghiên cứu đầu tiên về môi trường và xung đột.
  5. 5. 5 Các nghiên cứu sau Levy (1995) đã tạo ra các tranh luận tiếp theo về việc thiết lập các chính sách để làm rõ mối liên hệ giữa môi trường và xung đột, tạo nền tảng cho việc theo đuổi những nghiên cứu xa hơn về những mối quan hệ phức tạp và còn mơ hồ này. Các nghiên cứu này không chỉ làm tăng tính khoa học cho những tranh luận xung quanh mối liên hệ giữa các biến đổi của môi trường và xung đột vũ trang, mà chúng còn làm cho công chúng ý thức được hiện tượng môi trường xuống cấp có thể góp phần làm nảy sinh xung đột vũ trang. Homer-Dixon (1991) kết luận rất rõ ràng: "... khan hiếm các tài nguyên không phục hồi được là yếu tố góp phần đẩy đến xung đột vũ trang ở rất nhiều nơi thuộc thế giới thứ ba". Nghiên cứu tiếp theo của Bachler và cộng sự (1998) đã cho thấy môi trường trở thành cốt lõi của các tình trạng căng thẳng, trở thành kênh dẫn tới tình trạng căng thẳng, thành chất xúc tác hay thậm chí là cái đích cho tình trạng căng thẳng. Nhiều mối đe doạ về môi trường có khả năng góp phần làm mất an ninh và gây xung đột. Những hạn chế về tài nguyên là một yếu tố quan trọng thường được bàn đến trong các tài liệu. Việc tăng dân số và công nghiệp hoá nhanh chóng ở nhiều nơi đã làm tăng nhu cầu về cả tài nguyên thiên nhiên có thể tái sinh và tài nguyên không tái sinh được. Tranh chấp tài nguyên xưa nay vẫn là nguyên nhân chủ yếu gây xung đột. Ta có thể thấy tình trạng khan hiếm nước ở vùng Trung Đông; cạn kiệt nguồn cá ở bờ biển đông Canađa; chặt phá rừng ở Braxin, Thái Lan và nhiều nơi khác đã hoặc sẽ trở thành nguyên nhân chính gây ra xung đột. Theo Viện Hàn lâm Khoa học Mỹ (1991) và Myers (1993), những thay đổi của bầu khí quyển - trái đất nóng lên và tầng ozon bị huỷ hoại - có thể gây ra những tổn thất to lớn cho con người. Thêm vào đó, đất đai xuống cấp - hay tình trạng sử dụng đất hiện nay nói chung - cũng có thể trực tiếp ảnh hưởng khả năng tự cung cấp nguồn thực phẩm cho con người, nhất là trong điều kiện dân số gia tăng, hoặc có thể gián tiếp ảnh hưởng đến những thay đổi khác như làm cho trái đất nóng lên. Homer-Dixon (1994) đã đưa ra một vài bằng chứng về những mối liên quan này và kết luận sự khan hiếm tài nguyên môi trường (bao gồm cả biến đổi môi trường, gia tăng dân số và phân chia không đều nguồn tài nguyên) tạo ra xung đột gay gắt. Trong khi luận điểm này còn đang được bàn cãi, càng ngày người ta càng phải công nhận môi trường xuống cấp ít nhất cũng góp phần gây xung đột và mất an ninh. Phân biệt An ninh và Xung đột Cần phải phân biệt được hai khái niệm hàm chứa trong các thuật ngữ xung đột và an ninh. Xung đột là hiện tượng có thể quan sát được trên thực tế. Không giống như vậy, an ninh lại là nhận thức chủ quan mang tính xã hội, biến đổi theo thời gian và tuỳ thuộc từng đối tượng được bảo vệ hay đi bảo vệ an ninh (cá nhân, tổ chức, quốc gia, xuyên quốc gia hay quốc tế). Xung đột thường được xem như một mối đe doạ cho an ninh. Vì vậy, hai khái niệm này thường hay đi liền với nhau, không nên coi chúng là hai khái niệm đối lập. Một vài tác giả khác đã cố gắng làm rõ những mối quan hệ giữa môi trường với xung đột và cả an ninh. Ví dụ như Wallensteen (1992) đã đưa ra một cách phân loại mối liên kết giữa sự phá huỷ môi trường với xung đột và/hoặc an ninh, gồm có 7 điểm. Mặc dù không đưa ra các ví dụ minh hoạ, hệ thống phân loại của ông có thể được hiểu như sau:
  6. 6. 6 - Phá huỷ môi trường sẽ làm giảm các nguồn tài nguyên sẵn có cho xã hội, vì vậy sẽ dẫn tới cạnh tranh mở rộng hơn và gay gắt hơn; - Phá huỷ môi trường dẫn tới chuyển đổi quyền lực hiện có; - Phá huỷ môi trường dẫn tới tạo ra thêm nhiều nhóm quyền lực mới, như là một phản ứng đáp lại sự thay đổi này; - Phá huỷ môi trường làm cho các vấn đề về môi trường trở nên quan trọng đối với các nhóm quyền lực hiện có; - Phá huỷ môi trường làm cho các vấn đề về môi trường được tập trung chú ý nhiều hơn các vấn đề khác trong xã hội; - Phá huỷ môi trường làm nảy sinh những xung đột về môi trường trong những nhóm nước quan tâm nhiều đến môi trường. Nguồn: W.Allensteen, P., 1992. Nghiên cứu nói trên và những nhận xét chung cho phép chúng ta rút ra một kết luận không thể phủ nhận được: biến đổi môi trường (và các mối đe doạ được coi là không truyền thống khác) có liên quan đến tình trạng mất an ninh do bất bình đẳng và đói nghèo. Mối quan hệ giữa môi trường và an ninh là một ví dụ về cách thức các yếu tố hoặc các nguy cơ khác nhau ảnh hưởng đến tình trạng bất bình đẳng và đói nghèo, đúng như tuyên bố Johannesburg sau này (2002) đã khẳng định. Người ta nhận thấy biến đổi môi trường có nhiều vai trò khác nhau trong các mối quan hệ với xung đột vũ trang. Điều này được thể hiện rõ trong định nghĩa của Dokken và Greger về xung đột vũ trang liên quan đến môi trường "là một loại xung đột có liên quan đến sức ép môi trường hoặc sự xuống cấp môi trường, có thể đóng vai trò là nguyên nhân, là hậu quả hay yếu tố liên quan - cùng với nhiều yếu tố xã hội, chính trị hay sắc tộc khác" (1995: 38). 2.2.An ninh môi trường và phát triển cộng đồng Cộng đồng là gì ? Cộng đồng là một phạm trù cơ bản của xã hội học. Đó là một tập hợp các cá nhân cùng chia sẻ một lợi ích chung, giống nhau về các điều kiện tồn tại và hoạt động – bao gồm các hoạt động sản xuất vật chất và các hoạt động khác, sự gần gũi giữa họ về tư tưởng, tín ngưỡng, hệ giá trị và chuẩn mực, nền sản xuất, sự tương đồng về điều kiện sống cũng như các quan niệm chủ quan của họ về các mục tiêu và phương tiện hoạt động (Tô Duy Hợp và Lương Hồng Quang, 2000, tr.17). Các tính chất của một cộng đồng gồm: - Quan hệ xã hội mang tính chất thân tình, thân mật, có tính cố kết tự nhiên. - Tính bền vững theo thời gian. - Vị thế xã hội của các thành viên được gán sẵn nhiều hơn là do phấn đấu mà có.
  7. 7. 7 - Dòng họ được lấy làm quan hệ cơ bản và mang cả hai đặc trưng: huyết thống và khuôn mẫu văn hoá của sinh hoạt cộng đồng. (Theo Tô Duy Hợp và Lương Hồng Quang, 2000) Khái niệm hiệp hội, tuy cũng dùng đề chỉ một tập hợp các cá thể, nhưng hoàn toàn khác với 4 tính chất trên đây của cộng đồng. Hiệp hội được thành lập chủ yếu nhằm chia sẻ lợi ích, hợp tác bảo vệ quyền lợi thông qua các hợp đồng hoặc khế ước, tính hợp lí hơn là tình cảm và vị thế trong hiệp hội là do phấn đấu mà có. Ví dụ ta nói: "Hiệp hội các nhà sản xuất chè Việt Nam", khác với "Cộng đồng trồng chè ở xã Tân Cương, Thái Nguyên". Phát triển cộng đồng Phát triển cộng đồng thực chất là quá trình tăng trưởng kinh tế của cộng đồng cùng với tiến bộ cộng đồng theo hướng hoàn thiện các giá trị Chân – Thiện – Mỹ (Tô Duy Hợp và Lương Hồng Quang, 2000). Chương trình phát triển của Liên Hợp Quốc (1972) cho rằng phát triển cộng đồng không chỉ là một tiến trình nội tại do bản thân sự nỗ lực của công chúng, mà còn có nỗ lực của chính quyền và các tổ chức hỗ trợ phát triển giúp cho cộng đồng cải thiện các điều kiện kinh tế, xã hội và văn hoá, để cộng đồng có thể hội nhập và đóng góp vào đời sống quốc gia (UN, 1972, popular participation: emerging trends in community development, p.2, NewYork). An ninh môi trường và phát triển cộng đồng Các khái niệm nêu trên còn thiếu những tiêu chí quan trọng về bảo vệ môi trường ngay trong các định nghĩa về cộng đồng và phát triển cộng đồng. Đưa các tiêu chí môi trường vào lĩnh vực này là một tất yếu để đảm bảo tính bền vững của cộng đồng và phát triển cộng đồng, vì trên thực tế, dù các nhà khoa học có đề cập đến hay không, các tiêu chí môi trường luôn luôn được các cộng đồng quan tâm và thực hiện. Đặc trưng môi trường của một cộng đồng là sự tương đồng về nhận thức, thái độ, hành vi trong ứng xử với thiên nhiên, phương cách khai thác bền vững tài nguyên thiên nhiên. Điều này thể hiện rất rõ trong các hương ước, luật tục, thói quen... của nhiều cộng đồng, nhất là cộng đồng nông thôn vẫn sống dựa vào các nguồn lợi thiên nhiên. Đặc trưng môi trường của phát triển cộng đồng là không chỉ phát triển kinh tế, cải thiện các điều kiện xã hội, văn hoá, mà còn duy trì khả năng sản xuất của môi trường. Phúc lợi môi trường là bình đẳng với phúc lợi về kinh tế và xã hội trong phát triển cộng đồng. Bảo đảm an ninh môi trường gần như là điều kiện cốt lõi của sự tồn tại và phát triển của cộng đồng, vì một môi trường an ninh có khả năng cung ứng bền vững 5 chức năng cơ bản cho phát triển cộng đồng. Khi môi trường mất an ninh (suy thoái, sự cố) cộng đồng sẽ: - Không có nơi ở an toàn (do thiên tai, sự cố, thảm hoạ môi trường). - Không cung cấp đủ tài nguyên (thiếu đất đai, thiếu nước, thiếu năng lượng, ngư trường xuống cấp, tài nguyên rừng kiện quệ... - Môi trường bị ô nhiễm và trở nên độc hại.
  8. 8. 8 - Các thông tin bị phá huỷ (ví dụ các loài sinh vật bị biến mất, các điểm khảo cổ bị huỷ hoại, thiếu thông tin khoa học công nghệ, tổ chức sản xuất...) - Các tiện nghi bị phá huỷ (không còn cảnh quan đẹp, không có khí hậu trong lành để di dưỡng tinh thần...). Phản ứng trước môi trường sống mất an ninh, cộng đồng có thể bị buộc phải lựa chọn các phương cách sống: - Trở thành người tị nạn môi trường: cộng đồng bị phá vỡ, phân tán. - Trở thành nhóm người ngày càng nghèo đói, lạc hậu: cộng đồng suy thoái. - Bùng phát các xung đột trong tranh giành tài nguyên, không gian sống, phá vỡ các mối liên kết xã hội, vi phạm pháp luật... Rõ ràng quốc gia muốn ổn định và phát triển thì các cộng đồng cũng phải ổn định và phát triển. Đảm bảo cho sự ổn định và phát triển đó không thể thiếu việc duy trì các dịch vụ môi trường một cách bền vững. 2.3.An ninh môi trường và quản lý Nhà nước về môi trường Nguyên nhân của việc mất (suy giảm) an ninh môi trường - Bản thân hệ môi trường có thể mất an ninh một cách tự nhiên. Ví dụ một vùng bị thiên tai như lụt, động đất, gió xoáy, phun trào núi lửa. Một hệ môi trường có thể mất an ninh do hoạt động của con người. Tác động nhân sinh có thể dẫn đến những biến đổi môi trường một cách trường diễn, ví dụ ô nhiễm công nghiệp, khai thác quá mức tài nguyên. Những vấn đề về sa mạc hoá, đa dạng sinh học, biến đổi khí hậu đã từng được thảo luận ở nhiều hội thảo quốc tế và là đối tượng nghiên cứu nhiều năm. Chúng cũng được đề cập đến trong nội dung của 3 công ước quốc tế. Tuy nhiên, lại nảy sinh nhu cầu phải phân tích những hiểm hoạ bắt nguồn từ những suy thoái môi trường xảy ra trường diễn trong mối quan hệ với các điều kiện chính trị và kinh tế - xã hội đang chiếm ưu thế trong một khu vực, nhằm xác định những phương tiện có thể ngăn ngừa tình trạng không ổn định có thể dẫn đến xung đột và di cư. - Thêm vào đó, hoạt động phát triển kinh tế – xã hội cũng có thể dẫn đến những sự cố môi trường có tính thảm hoạ, ví dụ việc xây dựng cơ sở hạ tầng qui mô lớn như xây đập, hành lang giao thông, hoặc các sự cố công nghiệp. Cả hai loại mất an ninh môi trường có nguồn gốc tự nhiên hay nhân tạo có thể tác động tương hỗ và tăng cường lẫn nhau. Ví dụ lũ lụt tự nhiên trong những vùng đất thấp có thể được khuếch đại nhờ phá rừng qui mô lớn đầu nguồn. - Mất an ninh môi trường không phải bao giờ cũng đe dọa nơi cư trú và dẫn đến tình trạng tị nạn. Con người vẫn luôn có khả năng thích ứng với hoàn cảnh. Nếu tài nguyên trở nên hiếm hoi, họ có thể sử dụng tài nguyên có hiệu quả hơn hoặc sử dụng loại khác để thay thế. Suy thoái đất có thể được ngăn chặn hay giảm bớt nhờ sử dụng kỹ thuật canh tác thích hợp. Tuy nhiên, vẫn có nhiều yếu tố khác làm cho con người dễ tổn thương do mất an ninh môi trường. Đó là các điều kiện yếu kém về kinh tế như quyền sở hữu, thu nhập, cấu trúc xã hội, sức khoẻ, giáo dục và hoàn cảnh gia đình.
  9. 9. 9 - Bùng nổ dân số và tăng cường tiêu thụ tài nguyên là những yếu tố mấu chốt gây tàn phá môi trường. Sự cạnh tranh khốc liệt tài nguyên và sự phân phối không công bằng nguồn tài nguyên khan hiếm có thể đưa con người tới xung đột gay gắt, kể cả trên bình diện quốc gia lẫn quốc tế. Gia tăng thiếu hụt tài nguyên nước do khai thác quá mức và do ô nhiễm, sự phân chia không công bằng tài nguyên nước là một ví dụ chứng minh rằng suy thoái môi trường là một mối quan tâm chủ yếu của chính sách quan hệ quốc tế, cứu vãn hoà bình và hợp tác phát triển. - Gia tăng thiên tai cũng là một trong những nguyên nhân phá hoại các phương tiện sinh sống cơ bản của dân chúng. Những hoàn cảnh khó khăn có thể thúc đẩy những người nghèo trôi dạt đến những vùng dễ bị thiên tai và có tài nguyên mỏng manh, không phù hợp với sản xuất và cư trú. Kết quả là họ lại tiếp tục gây suy thoái những vùng đất mới và lại tiếp tục tự thu hẹp điều kiện sống của mình. Tại rất nhiều khu vực đang phát triển, nhất là ở Châu Phi, Nam và Đông á, tần suất lớn của các thảm hoạ thiên nhiên và nhân tạo đã gắn chặt với những khó khăn về kinh tế, xã hội và chính trị. Rất nhiều nước phải hứng chịu những thiên tai khốc liệt mà chính những thiên tai này lại là kết quả của hoạt động nhân sinh. ở nhiều nước Đông Nam á, phá rừng đầu nguồn đã làm cho nhiều vùng đất thấp rộng lớn ven biển chịu ngập lụt. Bùng nổ dân số và nghèo khổ khiến cho nông dân phải canh tác tại những vùng đất suy thoái, điều đó lại góp phần tăng thêm số lượng người dễ bị tổn thương do biến động môi trường. Vòng xoáy của suy thoái môi trường và tị nạn môi trường có thể xảy ra nếu những vấn đề về an ninh môi trường không được quan tâm ngay từ đầu. - Nông nghiệp là nguồn thu nhập chính của phần lớn những nước đang phát triển, vì vậy điều kiện môi trường ổn định là vô cùng quan trọng. Con người trong các hệ thống kinh tế kém đa dạng là nhóm rất dễ bị tổn thương do mất an ninh môi trường, bởi vì cơ hội cho họ tìm kiếm các nguồn lực thay thế là rất khó và hạn chế. Mất an ninh môi trường có thể dẫn đến khủng hoảng toàn bộ nền kinh tế và dẫn đến bùng nổ thất nghiệp, nghèo đói và các luồng di cư vào đô thị. Rõ ràng việc đảm bảo ANMT không thể thiếu vai trò quản lý nhà nước về môi trường. Trách nhiệm quản lý nhà nước trong đảm bảo An ninh Môi trường - ứng xử thiên tai + Khả năng ngăn chặn thiên tai là rất hạn chế, do đó chiến lược can thiệp là nhằm vào cảnh báo sớm và chuẩn bị, phòng tránh và di chuyển dân. Điều này đòi hỏi phải sưu tập các dữ liệu, đánh giá các nguồn dữ liệu có sẵn trong khu vực, xác định các vùng dễ bị tổn thương, xây dựng hệ thống cảnh báo sớm, đào tạo cán bộ và tập huấn dân chúng sẵn sàng đối mặt với thiên tai. + Phòng tránh thiên tai nhằm vào giảm thiểu tác động xấu của thiên tai và cần hành động sớm trước khi thảm hoạ xảy ra. Phòng tránh thu hút cả sự hỗ trợ của các tổ chức phi chính phủ và các tổ chức quần chúng vốn có mục tiêu hoạt động nhằm đáp ứng nhu cầu của những nhóm dân cư dễ bị tổn thương, hoặc những tổ chức hoạt động nhằm
  10. 10. 10 cảnh báo sớm hiểm họa. Cần xác lập hệ thống cứu hộ, ứng xử khẩn cấp, hệ thống bảo hiểm, quy chế xây dựng, nâng cấp hệ thống hoạt động xã hội, thực thi các biện pháp nhằm đa dạng hoá nền kinh tế của vùng. + Biện pháp tái định cư dân sau thảm hoạ phức tạp hơn sự cứu trợ nhân đạo kinh điển rất nhiều. Điều ưu tiên hàng đầu là đáp ứng nhu cầu thiết yếu của những người gặp nạn. Tuy nhiên các vấn đề tái lập an ninh môi trường cũng cần được tiến hành càng nhanh càng tốt. Cần khuyến khích những người di tản trở lại xây dựng lại quê nhà sau thảm hoạ nhằm giảm thiểu các xung đột và di cư trong tương lai. Cần chú ý đến truyền thông và điều phối giữa tất cả các thành viên tham gia vào quá trình tái định cư. Nếu như tản cư sang nước láng giềng, cần thiết lập truyền thông liên chính phủ để giảm căng thẳng quốc tế. Truyền thông giữa chính phủ và các tổ chức tham gia vào quá trình tái định cư sau thảm hoạ là rất quan trọng ở mọi cấp, từ cấp địa phương - cấp quốc gia đến cấp quốc tế. - Kiểm soát các hoạt động kinh tế – xã hội gây các sự cố môi trường + Tương tự như thiên tai, các sự cố công nghiệp cũng có đặc tính là xảy ra đột ngột, khó xác định trước và có thể gây tác hại nghiêm trọng đến ANMT và con người. Trong cả hai trường hợp, kỳ vọng nhằm dự báo cường độ, phạm vi và thời gian kéo dài thường rất hạn chế. Sự khác nhau giữa thiên tai và sự cố công nghiệp chỉ là ở chỗ cơ hội cho con người có thể phòng ngừa hay giảm thiểu, và có thể tính toán xác suất của sự cố công nghiệp. + Để giảm rủi ro công nghiệp, cần phải tăng cường năng lực xác định mức độ của các thiết bị nguy hiểm và đánh giá tác động có thể của chúng với môi trường. Biện pháp thích hợp có thể là hỗ trợ hợp tác kỹ thuật, áp dụng công nghệ mới và đào tạo con người. Việc tăng cường năng lực của các cơ quan chính phủ nhằm cải thiện cơ sở luật pháp quốc gia về môi trường có thể góp phần xây dựng một nền kinh tế ít gây hại cho môi trường. + Các dự án cơ sở hạ tầng qui mô lớn có thể tiềm ẩn những tác động môi trường giống như các sự cố công nghiệp. Cần phải tiến hành đánh giá tác động môi trường, đặc biệt là các dự án lớn như hồ thuỷ điện hay xây dựng bãi chất thải độc hại. Chúng thường kéo theo việc tái định cư bắt buộc rất đông dân cư. + Đối với những dự án được tài trợ nước ngoài, các nhà tài trợ và tổ chức quốc tế cần tiến hành các đánh giá độc lập về khả năng tác động của dự án. ANMT và sự an toàn nơi cư trú của nhân dân cần được lồng ghép vào dự án như các tiêu chuẩn chiến lược quan trọng trong đánh giá tác động môi trường đối với các dự án tài trợ. Các tổ chức quốc tế cần gây sức ép đối với các nhà tài trợ cho những dự án gây nguy hiểm ANMT. Đánh giá môi trường chiến lược, các cuộc thảo luận chính sách song phương hay đa phương trong cộng đồng các nhà tài trợ là những công cụ sắc bén cho chiến lược phòng ngừa. - Kiểm soát các quá trình suy thoái môi trường trường diễn + Quá trình suy thoái có thể là trường diễn, ví dụ ô nhiễm nước, sự dâng cao mực nước biển, do ấm lên toàn cầu, khai thác quá mức tài nguyên thiên nhiên, hoang mạc
  11. 11. 11 hoá và suy thoái đất. Những vấn đề môi trường nho nhỏ, phân tán có thể được tích luỹ dần dần mà chẳng gây ra sự chú ý nào cho đến khi chúng vượt qua ngưỡng an toàn của hệ sinh thái và trở thành mối đe doạ nghiêm trọng đối với ANMT của một khu vực. + Cần phải xác định rõ những hiểm hoạ này ở giai đoạn sớm. Muốn vậy, cần tiến hành nghiên cứu thu thập các tài liệu cần thiết về các điều kiện môi trường theo thời gian, cũng như các thông tin về hiện trạng kinh tế xã hội và chính trị tại khu vực có những cộng đồng dễ bị tổn thương cư trú. Nhằm tăng cường năng lực giám sát ở các nước đang phát triển, các tài liệu có sẵn cần được xử lý và cung cấp cho chính phủ và các tổ chức khu vực, đặc biệt là qua mạng thông tin. + Cổ vũ các sáng kiến địa phương thông qua phát triển năng lực có thể ngăn ngừa sự phát triển xấu của môi trường tại địa phương ở giai đoạn sớm và bảo vệ được quá trình phát triển bền vững hơn. Các giải pháp tăng cường năng lực cho người địa phương nhằm tự giải quyết các vấn đề của mình trong tương lai bao gồm cả việc phát triển các kỹ thuật truyền thông. + Những hoạt động thường ngày của con người cũng thường tạo ra những vấn đề môi trường. Do đó sự tham gia của cộng đồng về mặt môi trường là rất cần thiết. Các giải pháp như giáo dục, đào tạo, giúp đỡ kỹ thuật cần phải đến được nhóm bị tác động. Cần nhấn mạnh đến sự tham gia của cộng đồng địa phương, phát triển kỹ năng truyền thông và năng lực giải quyết các vấn đề môi trường trong chiến lược ổn định ANMT lâu dài. - Tăng cường hợp tác quốc tế Những hiểm hoạ môi trường toàn cầu và xuyên biên giới một mặt tạo ra các xung đột bất tận trong tranh chấp tài nguyên, mặt khác cũng đòi hỏi sự hợp tác toàn cầu, liên quốc gia hoặc liên vùng trong việc xử lý ô nhiễm và suy thoái môi trường. Hàng loạt các công ước quốc tế về môi trường đã được nhiều nước ký kết là bằng chứng cho thấy liên minh quốc tế là giải pháp duy nhất cho việc cứu lấy trái đất. Hợp tác môi trường trở thành ngôn ngữ chung và mối quan tâm chung trong đối thoại quốc tế cũng như trong xây dựng các chiến lược phát triển bền vững khu vực và vùng. Những thành công của Bắc Âu trong kiểm soát phát xả khí nhà kính, việc hợp tác cải thiện môi trường sông Rhin và Đanup ở Trung Âu, hợp tác cải thiện môi trường biển Baltic, những thành công trong quản trị lưu vực sông Mekong, các thoả thuận kiểm soát lan toả khí độc do cháy rừng ở ASEAN... là những thành công bước đầu. Ngoại giao môi trường, hợp tác quốc tế về môi trường đang dần trở nên phổ biến và có thể mạnh trong các mối quan hệ song phương và đa phương./. 2.4.An ninh môi trường và quan hệ quốc tế Xác lập vai trò hợp lí của Hội đồng bảo an LHQ về an ninh môi trường Tuyên ngôn Rio được hội nghị về môi trường và phát triển của LHQ thông qua năm 1992 đã kêu gọi các quốc gia "giải quyết tất cả các bất đồng về mặt môi trường một cách hoà bình, bằng các giải pháp thích hợp và phù hợp với hiến chương LHQ".
  12. 12. 12 Hội đồng Bảo an là một cơ quan của LHQ với chức năng ban đầu là duy trì an ninh và hoà bình thế giới. ở chương 7 của bản hiến chương, Hội đồng có quyền thực hiện các hành động ép buộc một quốc gia phải tái lập hoà bình nếu như có lý do xác đáng rằng "có sự đe doạ đến hoà bình, phá vỡ hoà bình hoặc có hành động xâm lược". Mãi cho đến gần đây, điều khoản này vẫn thuộc lĩnh vực hoạt động quân sự. Tuy nhiên, khái niệm mới về an ninh môi trường đã xuất hiện cùng khuyến cáo cho rằng Hội đồng Bảo an cần phải thực thi vai trò của mình trong lĩnh vực môi trường. Điều khuyến cáo đó đã được ghi nhận tại hội nghị thượng đỉnh tháng giêng năm 1992 của 15 nước thành viên của HĐBA: "sự vắng bóng của chiến tranh và xung đột quân sự giữa các quốc gia không có gì đảm bảo cho hoà bình và an ninh thế giới. Các nguồn mất ổn định phi quân sự trong các lĩnh vực kinh tế, xã hội, nhân văn và sinh thái đã trở thành yếu tố đe doạ hoà bình và ổn định. Tất cả các thành viên LHQ cần dành ưu tiên cao nhất để giải quyết vấn đề này". Các vấn đề môi trường có thể đe doạ hoà bình và ổn định bằng nhiều cách: - Những bất đồng giữa các quốc gia về phân chia tài nguyên thiên nhiên hoặc về sự ô nhiễm xuyên biên giới có thể leo thang thành xung đột quân sự, và bằng cách đó đe doạ hoà bình và an ninh thế giới theo nghĩa kinh điển của vấn đề. - Suy thoái môi trường, thiếu hụt tài nguyên thiên nhiên, sự đe doạ giảm tầng ôzôn và biến đổi khí hậu, sự phát triển không bền vững có thể đe doạ các phúc lợi nhân văn, rồi qua đó đe doạ đến hoà bình và an ninh thế giới. - Môi trường có thể được sử dụng như một thứ vũ khí trong chiến tranh (ví dụ như chiến tranh vùng Vịnh). Trong khi Đại hội đồng LHQ đã có một lịch sử lâu dài tham gia vào các vấn đề môi trường, thì Hội đồng Bảo an chỉ bắt đầu can thiệp vào vấn đề môi trường kể từ chiến tranh vùng Vịnh và hiện nay, nhu cầu phải xây dựng vai trò của Hội đồng Bảo an trong lĩnh vực môi trường đang đòi hỏi ngày càng bức xúc. Tuy nhiên, việc này gặp nhiều trở ngại về mặt luật pháp lẫn chính trị. Mở rộng quyền của Hội đồng Bảo an ra khỏi phạm vi những vấn đề quân sự cũng có nghĩa là mở rộng danh sách các nước thành viên, cũng như thể chế ra quyết định của Hội đồng, có nghĩa là cần phải chỉnh sửa lại những mất cân bằng hiện có vốn đang thoả mãn các nước chiến thắng trong Đại chiến II. Có những nghi ngại cho rằng sự tham gia của Hội đồng Bảo An vào ANMT sẽ tạo ra những phản ứng không thích hợp trong việc giải quyết các bất hoà môi trường. Sức mạnh của Hội đồng Bảo an là nhằm duy trì hoà bình chống lại những cuộc xâm lược quân sự xuyên biên giới. Việc sử dụng các hành động gây sức ép ở chương VII (Hiến chương LHQ) sẽ gây phản ứng bất lợi trong việc giải quyết phần lớn các bất hoà về môi trường. Ví dụ Hội đồng Bảo an có thể can thiệp thành công trong việc phân chia quyền sử dụng một dòng sông xuyên biên giới, nhưng Hội đồng có thể làm gì trong trường hợp một quốc gia đang mất dần lãnh thổ do sự dâng cao mực nước biển được gây ra do hiệu ứng nhà kính? Hội đồng có thể can thiệp để giảm nhẹ các khủng hoảng tức thời, ví dụ trợ giúp nhân đạo để giảm tị nạn môi trường, nhưng sẽ làm gì để giải quyết tận gốc nguyên nhân gây ra hiện tượng đó.
  13. 13. 13 Gần 6 năm đã trôi qua kể từ khi cuộc họp thượng đỉnh của Hội đồng Bảo an đã ghi nhận sự mất ổn định trong lĩnh vực sinh thái chính là mối đe doạ đến hoà bình và an ninh, nhưng cho đến nay Hội đồng vẫn chưa can thiệp vào bất cứ một sự kiện an ninh môi trường nào. Việc tiếp tục vận hành lò phản ứng hạt nhân Chernobyl mà các quốc gia châu Âu coi là mối đe doạ lớn nhất đến an ninh môi trường đã không được ghi vào chương trình nghị sự của Hội đồng. Và việc vận hành lò phản ứng ở Chernobyl được coi là trách nhiệm của riêng Ukraine, trong khi về mặt lý thuyết, việc vận hành đó là đe doạ an ninh chung và cần phải buộc Ukraine đóng cửa nhà máy này. Như vậy, còn nhiều trở ngại về luật pháp và chính trị ngăn cản sự can thiệp của Hội đồng Bảo an vào vấn đề an ninh môi trường, trừ trường hợp mất an ninh môi trường có thể leo thang thành xung đột quân sự. Thiết lập an ninh môi trường toàn cầu Khái niệm an ninh đã được mở rộng Cuộc khủng hoảng dầu lửa xảy ra trong thập kỷ 1970 đã khiến cho các vấn đề kinh tế và khan hiếm tài nguyên được thừa nhận là các vấn đề cần được quan tâm trong nền an ninh quốc gia. Hai thập kỷ sau khi Liên Xô tan rã, các khái niệm an ninh truyền thống đòi hỏỉ phải được cân nhắc lại. Không còn mối đe doạ từ Liên Xô, các thế lực phương Tây tập trung vào cạnh tranh thương mại và kinh tế. Trong khi đó, các mối đe doạ môi trường toàn cầu ngày càng được nhận thức một cách nghiêm túc. Các khái niệm an ninh được đưa ra trên cơ sở các mối đe doạ - sức ép môi trường - bổ sung vào các vấn đề xung đột quốc gia, cũng như các thay đổi môi trường đã trở thành trọng tâm trong các mô hình hợp tác an ninh toàn cầu. Hơn nữa, có nhiều bằng chứng cho thấy, các vấn đề liên quan tới thay đổi môi trường như tăng dân số ở các nước đang phát triển, cạnh tranh quyền kiểm soát tài nguyên và di cư xuyên biên giới... có khả năng gây ra các xung đột nghiêm trọng. Hiện nay, nhiều nhà tư tưởng quân sự cũng thừa nhận cần phải dự báo và quy hoạch đối phó với sức ép môi trường - mối đe doạ đến tính ổn định của đất nước. Ví dụ về sự mở rộng khái niệm về "An ninh" Từ năm 1991, từng hành động trong chiến lược an ninh quốc gia của Mỹ đều quan tâm đến vấn đề môi trường. Năm 1993, Bộ Quốc phòng Mỹ bổ nhiệm thêm chức thứ trưởng phụ trách an ninh môi trường. Quốc hội Mỹ phần bổ hơn 420 triệu USD cho chương trình nghiên cứu và phát triển chiến lược môi trường. Các nhà phân tích tình báo quốc phòng đang được đào tạo để hiểu sức ép môi trường là mối đe doạ tiềm tàng đến ổn định của chế độ. Cuối cùng, các lực lượng vũ trang và các cơ quan tình báo đã tham gia vào sứ mạng ứng cứu để giảm nhẹ những tổn thất của con người do các thảm hoạ môi trường gây ra. Nguồn: Báo cáo Dự án An ninh và Biến động Môi trường, USA, 1996 Như vậy, theo những nhận định trên, các vấn đề môi trường liên quan chặt chẽ với an ninh. Hơn nữa, nếu xét trên quan điểm hệ thống thì môi trường, kinh tế, chính trị và an ninh là các mặt không thể tách rời nhau, phụ thuộc lẫn nhau; môi trường mỗi quốc gia có ảnh hưởng đến môi trường toàn cầu và ngược lại, và an ninh môi trường quốc gia có ảnh hưởng đến an ninh môi trường quốc tế.
  14. 14. 14 Toàn cầu hoá và các vấn đề môi trường Hiện nay, toàn cầu hoá là một động lực mạnh mẽ chưa từng thấy. Cao trào thương mại và đầu tư vào các ngành liên quan đến tài nguyên thiên nhiên (như lâm nghiệp, khai khoáng và phát triển dầu mỏ) đang đe doạ tới rừng, núi, các thuỷ vực và các hệ sinh thái nhạy cảm khác trên thế giới; hàng nghìn loài thực vật và động vật hiện đang “cắm rễ” ở các bờ biên nước ngoài; đã có thời “các loài ngoại lai” nhanh chóng sinh sôi, lấn át các loài bản địa và gây rất tốn kém về mặt kinh tế; thương mại thế giới cũng là một cơ chế tiềm ẩn để từ đó các sản phẩm và công nghệ nguy hiểm thông thương khắp thế giới... Tự do hoá các thị trường trên thế giới có thể là chìa khoá tăng trưởng kinh tế ở các nước giầu cũng như nước nghèo. Nhưng toàn cầu hoá không được phép diễn ra bằng giá của hàng ngàn nền văn hoá và truyền thống bản địa. Trong các nền văn hoá và phong tục của mình, các dân tộc bản địa đã gìn giữ một cách thiêng liêng những bí mật quản lý sinh cảnh và đất đai một cách thân thiện và bền vững với môi trường. Ông Klaus Toepfer (Giám đốc điều hành UNEP) nhận định trong khoá họp thứ 21 của Hội đồng quản trị UNEP: "Nếu mất đi các nền văn hoá, thì mối quan hệ khăng khít giữa nền văn hoá và thiên nhiên sẽ vĩnh viễn mất đi. Thế giới sẽ nghèo nàn đi nếu mất đi các nền văn hoá đó". Do vậy, bảo vệ nền văn hoá bản địa cũng là một trong những giải pháp ổn định an ninh môi trường. Hơn nữa, một số thách thức về môi trường thực sự đã trở thành yếu tố quyết định tương lai của cả hành tinh cũng như sự ổn định chính trị của nhiều khu vực trên thế giới: khí hậu, đa dạng sinh học, nguồn nước. Mức độ phụ thuộc của từng quốc gia vào các yếu tố này rất khác nhau. Nó trước hết tuỳ thuộc vào điều kiện địa lý, sinh học của từng quốc gia, đồng thời nó còn tuỳ thuộc vào khả năng tổ chức của mỗi quốc gia trước những thách thức đặt ra. Có thể điểm ra các mối đe doạ về an ninh môi trường qua ví dụ dưới đây. Toàn cầu hoá đang đe doạ hành tinh Theo báo cáo mới đây của Viện Tầm nhìn thế giới, toàn cầu hoá ngày càng lộ rõ nhiều mối đe doạ hành tinh và toàn thể loài người. Rừng đang suy giảm nhanh vì giá trị lâm sản của thương mại toàn cầu tăng từ 29 tỉ đôla năm 1961 tới 139 tỉ đôla năm 1998. Nguồn lợi thuỷ sản đang sụp đổ thảm hại do xuất khẩu tăng giá trị gần 5 lần, từ 1970 đến 1997, đạt 52 tỉ đô la. Sức khoẻ con người cũng tới ngưỡng nguy hiểm vì từ 1961, xuất khẩu thuốc trừ vật hại tăng gần 9 lần, đạt 11,4 tỉ đôla năm 1998. Bà Hilary French, tác giả của công trình "Đường biên giới đang biến mất: bảo vệ hành tinh trong thời đại toàn cầu hoá" cho rằng "đợt sóng luân chuyển hàng hoá, tiền bạc, các loài động vật và ô nhiễm đang tràn quá các đường biên giới, làm cho hành tinh bị căng thẳng chưa từng thấy. Trong khi các nhà kinh tế hào hứng với những mức tăng đột phá trong nền thương mại toàn cầu trong các thập kỷ qua, thì các nhà sinh học hàng đầu thế giới lại đưa ra những số liệu thống kê đúng mức: từ khi loài khủng long bị tuyệt diệt cách đây 65 triệu năm thì sự tổn thất các loài động vật trong những thập kỷ gần đây biểu hiện nguy cơ tuyệt chủng rộng lớn nhất. Hướng quá trình toàn cầu hoá để bảo vệ, chứ không phải làm suy yếu các hệ thống tự nhiên của Trái đất, mới là chìa khoá để xây dựng một xã hội ổn định về mặt môi trường trong thế kỷ 21. Lượng hàng hoá xuất khẩu thế giới từ 1950 đến 1998 tăng 17 lần, từ 311 tỉ đôla đến 5,4 nghìn tỉ đô la. Chỉ tính từ 1970, lượng đầu tư trực tiếp nước ngoài tăng gần gấp 15 lần, đến 1998 đạt 644 tỉ đôla; số các công ty xuyên quốc gia trên thế giới tăng từ 7000 năm 1970 cho đến nay tăng tới gần 60.000.
  15. 15. 15 Nguồn: World Watch Institute, 11/2001 Bốn lý do cần bảo vệ nền văn hoá bản địa + Các nền văn hoá bản địa có các hệ thống kinh tế truyền thống, tác động tương đối ít đến ĐDSH, do họ có xu hướng sử dụng hợp lý tính đa dạng loài, thu hoạch từng loài với số lượng ít. Trong khi đó, thu hoạch thương mại lại chỉ nhằm vào một số ít loài để thu thập và nhân giống với số lượng lớn, làm biến đổi cấu trúc các hệ sinh thái. + Các cộng đồng bản địa cố gắng phát triển tính ĐDSH trong địa phận họ sống và coi đó là chiến lược phát triển tính đa dạng về các nguồn tài nguyên theo cách lo toan riêng của họ, nhất là để giảm thiểu nguy cơ biến động về mức phong phú của từng loài. + Theo tập tục, người dân bản địa thường dự báo "trừ hao" mức phong phú về các loài động thực vật, và bằng việc đánh giá thấp mức dư thừa của từng loài, họ đã giảm thiểu nguy cơ gây tổn hại tới các nguồn cung cấp thức ăn của họ. + Do tri thức bản địa về các hệ sinh thái được tìm hiểu và cập nhật qua quan sát trực tiếp trên đất đai của họ, cho nên di chuyển họ ra khỏi mảnh đất của họ sẽ phá vỡ chu trình học hỏi kinh nghiệm từ thế hệ này sang thế hệ khác. Việc duy trì kinh nghiệm phong phú và tri thức truyền thống sẽ phụ thuộc vào việc sử dụng đất liên tục, giống như một lớp học và phòng thí nghiệm. Nguồn: UNEP, New Release 18/1/2002 Các xung đột liên quan đến môi trường ngày càng gia tăng Xung đột môi trường đang ngày càng diễn ra rộng khắp trên thế giới. Các phong trào đấu tranh đòi bình đẳng trong việc sử dụng lợi thế về tài nguyên thiên nhiên, giữ gìn môi trường sống như phong trào “Hoà bình xanh” đang trở thành phong trào chính trị. Xung đột môi trường bao gồm các vấn đề như: tranh chấp tài nguyên, dịch chuyển ô nhiễm và xâm lược sinh thái. Tranh chấp môi trường và tài nguyên - đã và đang gây ra những xung đột nghiêm trọng về kinh tế, chính trị. Như trường hợp tranh chấp nguồn nước sông Nin ở 3 quốc gia Ai Cập, Xu Đăng và Etiopia; hay trường hợp tranh giành nguồn tài nguyên dầu mỏ, Irac đã cho quân đánh Cô oét (5/1990), tiếp đó, quân đội của nhiều nước - đứng đầu là Mỹ đã can thiệp và dẫn đến cuộc chiến tranh vùng Vịnh kéo dài 42 ngày. Những xung đột liên quan tới nước Cuộc hội thảo mới đây ở Caen (1999) về Thông điệp hoà bình với tên gọi đầy ý nghĩa (cuộc chiến tranh về nước liệu có xảy ra không?) đã một lần nữa cho thấy rằng nước là một trong những nguyên nhân chủ yếu gây ra các xung đột hiện nay. Vấn đề sử dụng nước trong các khu vực mà sự phát triển kinh tế và xã hội hoàn toàn phụ thuộc vào nguồn tài nguyên nhỏ nhoi nhưng lại bị khai thác quá mức đã trở nên hết sức căng thẳng, và nước đã trở thành vũ khí chiến lược vô cùng quan trọng, mục tiêu tranh giành giữa các quốc gia thượng lưu và hạ lưu sông. Tất nhiên, cuộc thảo luận sẽ không bao giờ khép lại được giữa những người coi nước là nguồn gốc của các xung đột, và những người vốn coi trọng “ngoại giao nước”, coi đây là một công cụ ngoại giao tuyệt vời để giải quyết
  16. 16. 16 xung đột và tranh chấp. Dù theo quan điểm này hay quan điểm khác thì thực tế vẫn chỉ là một: nước là trung tâm của các cuộc xung đột, trở thành một vũ khí đáng sợ, là một trong những thách thức đối với an ninh quốc gia và là con đường bắt buộc để phát triển. Vùng Trung Đông là một hình mẫu của những vùng mà ở đó nhà thuỷ văn học trở thành nhà ngoại giao hay nhà quân sự, tóm lại là nằm trong bộ máy quyền lực. Rõ ràng, một sự quản lý chung và việc phân chia các nguồn nước qua đàm phán là không thể tách rời với việc giải quyết các xung đột: sẽ không có hoà bình nếu không có phân chia các nguồn nước, nhưng cũng không có được các giải pháp cho các nguồn nước nếu không có hoà bình. Hoà bình sẽ được thiết lập lâu dài khi mà một tổ chức về nước được thành lập trong vùng Trung Đông để chịu trách nhiệm theo dõi việc áp dụng một tổng thể phức tạp nhưng cần thiết cho các hiệp ước về cung cấp và trao đổi giữa các quốc gia mà nước đã gắn liền số phận của họ với nhau. Con đường còn dài để đạt được mục tiêu đó. "Cho tới khi phải nếm trải khổ đau, con người mới thật sự biết rằng nước là một kho báu", Lord Byron đã nói với chúng ta điều này. Nguồn: Roche, R., 2001. Vấn đề nước thế kỷ 21. Dịch chuyển ô nhiễm - là biểu hiện sự thoái thác trách nhiệm đối với vấn đề ô nhiễm môi trường của các nước phát triển bằng việc chuyển những xí nghiệp gây ô nhiễm, hay chất thải sang những nước phát triển. Các nhà khoa học môi trường gọi đây là khủng bố sinh thái. Lấy ví dụ: tổng kim ngạch đầu tư công nghiệp ở nước ngoài có nguy hiểm tới môi trường ở Mỹ chiếm 35% (ở các nước đang phát triển); tử Nhật - có tới 65- 75% (ở các nước Đông Nam á và Châu Mỹ La tinh) Dịch chuyển ô nhiễm Gần 41% đầu tư trực tiếp nước ngoài của Hoa Kỳ ở Philipin năm 1998 nằm trong ngành hoá chất và 22% ở Colombia. Các ngành công nghệ cao như máy tính điện tử cũng đang lan tràn trên toàn cầu những năm gần đây. Mặc dù, các ngành này, sớm nổi tiếng là tương đối sạch song vẫn phải đóng góp các chi phí đáng kể cho môi trường. Hàng trăm công nhân làm việc trong lĩnh vực bán dẫn tiếp xúc với các hoá chất như asen, benzen và crom, đều là tác nhân gây ung thư. San Jose, Liên minh về Chất độc ở Thung lũng silicon, California cho biết hơn một nửa các nhà máy chế tạo và lắp ráp máy tính có các quy trình sử dụng axit, các dung môi và các khí độc, được xây dựng ở các nước đang phát triển. Nguồn: World Watch Institute, 11/2001 Xâm lược sinh thái - là tình trạng “nhập siêu tài nguyên môi trường” ở các nước phát triển và “xuất siêu tài nguyên môi trường” để thu được ngoại tệ ở các nước đang phát triển. Ví dụ với Nhật, để giữ độ che phủ rừng của mình, không phải là nước thiếu gỗ nhưng vẫn nhập từ hàng chục đến hàng trăm triệu m3 gỗ từ các nước Đông Nam á. Chính sách bảo vệ an ninh môi trường toàn cầu Bảo vệ môi trường, giữ lấy sự sống của chính chúng ta và thế hệ mai sau đã trở thành mệnh lệnh mang tính toàn cầu. Các quốc gia trên thế giới không chỉ bàn luận mà thực sự đã đi vào hành động để từng bước xây dựng an ninh môi trường trên phạm vi toàn cầu. Một số nguyên tắc quan trọng:  Bảo vệ ANMT toàn cầu là vì lợi ích chung của tất cả các Quốc gia trên thế giới.  Những vấn đề ANMT toàn cầu chỉ có thể được giải quyết một cách có hiệu quả với sự
  17. 17. 17 hợp tác và tham gia của tất cả các quốc gia.  Để có thể hợp tác một cách có hiệu quả, cần thiết phải tạo ra một khung pháp lý Quốc tế về môi trường và bảo vệ ANMT.  Tôn trọng chủ quyền quốc gia là nguyên tắc cơ bản nhất trong quan hệ quốc tế. Theo nguyên tắc này, các quốc gia có thể tiến hành mọi hoạt động, trên phạm vi lãnh thổ của mình phù hợp với luật pháp quốc tế; có thể tiến hành mọi hoạt động bảo tồn, thăm dò, khai thác các nguồn tài nguyên thiên nhiên, có thể tiến hành mọi biện pháp cần thiết và thích hợp để bảo vệ môi trường, bảo vệ ANMT của mình. Đặc biệt, trong Công ước khung về Biến đổi khí hậu, vấn đề chủ quyền quốc gia còn được thể hiện cao hơn nữa, đó là "việc xem xét về môi trường không thể là các cớ để can thiệp vào công việc nội bộ của các nước đang phát triển" (Nguồn: Lê Văn Khoa và nnk. Chính sách và Chiến lược môi trường, 2000) Từ Rio đến Rio + 10 Rio Mốc lịch sử đầu tiên của hành động này là Hội nghị Liên Hiệp quốc về môi trường tại Stockhom (Thuỵ Điển) năm 1972. Mười năm sau, Hội nghị Thượng đỉnh Trái đất lần đầu tiên về môi trường toàn cầu họp tại Rio de Jainero (Braxin) với sự tham dự của 179 quốc gia. Hội nghị đã thông qua 5 văn kiện quan trọng được coi là chiến lược an ninh môi trường toàn cầu gồm: 1. Tuyên bố Rio về Môi trường và Phát triển: 27 nguyên tắc của bản tuyên bố đã xác định những quyền và trách nhiệm của các quốc gia. Đây chính là những quy định chung về trách nhiệm của các quốc gia trong việc bảo đảm an ninh môi trường. Tuyên bố nêu lên các kiến nghị khoa học buộc các quốc gia không được chậm trễ khi thực hiện các biện pháp bảo vệ môi trường. Mỗi quốc gia được toàn quyền khai thác những quyền lợi của riêng mình nhưng không được gây phương hại tới môi trường của các nước khác. Việc xoá bỏ sự nghèo đói và giảm sự chênh lệch về mức sống trên phạm vi toàn thế giới là "không thể thiếu được cho sự phát triển bền vững...". 2. Chương trình hành động 21: đề cập tới những bức xúc hiện nay với trên 2500 khuyến nghị hành động. Để bảm bảo an ninh môi trường cho trái đất trong thế kỷ 21, chương trình tập trung vào các vấn đề như chống đói nghèo, thay đổi phương thức sản xuất và tiêu thụ, vấn đề dân số, bảo vệ và quản lý các nguồn tài nguyên thiên nhiên, bảo vệ khí quyển, đại dương và đa dạng sinh học, ngăn ngừa phá hoại rừng, khuyến khích phát triển nông nghiệp bền vững,... 3. Bản tuyên bố các nguyên tắc kim chỉ nam cho việc quản lý, bảo vệ và phát triển rừng. Tuyên bố là sự thoả thuận toàn cầu đầu tiên đạt được về vấn đề rừng để đảm bảo an ninh môi trường. Các điều khoản chủ yếu nhấn mạnh, tất cả các nước, nhất là các nước phát triển, phải tiến hành mọi biện pháp để "làm xanh thế giới bằng cách trồng lại và bảo vệ rừng. Các quốc gia có quyền phát triển rừng phù hợp với nhu cầu kinh tế - xã hội của mình, cần phải dành những khoản tài chính hỗ trợ cho các nước đang phát triển lập các chương trình bảo vệ rừng, khuyến khích những chính sách thay đổi về kinh tế - xã hội có lợi cho an ninh môi trường. 4. Công ước khung của Liên Hiệp Quốc về Biến đổi khí hậu: mục đích nhằm làm ổn định các khí gây hiệu ứng nhà kính trong khí quyển ở mức độ không gây đảo lộn, nguy hiểm cho hệ sinh thái toàn cầu. 5. Công ước về Đa dạng sinh học: đòi hỏi các nước phải áp dụng các phương pháp và phương tiện nhằm bảo vệ sự đa dạng của các loài sinh vât, và đảm bảo những lợi ích có được do
  18. 18. 18 sử dụng, tính đa dạng sinh học phải được chia xẻ công bằng. Rio + 5 Tháng 6/1997, Đại Hội đồng LHQ lại triệu tập Hội nghị Thượng đỉnh tại New York về vấn đề môi trường. Hội nghị chủ yếu nhằm kiểm điểm, đánh giá tình hình thực hiện các cam kết đã đạt được tại Hội nghị Rio 92 và định hướng các giải pháp xây dựng an ninh môi trường trên phạm vi toàn cầu. Kết quả của Rio +5: sự bùng nổ sáng kiến từ các nhà doanh nghiệp, các giới chức và cộng đồng dân cư trong lĩnh vực bảo vệ môi trường; các hội đồng quốc gia về phát triển bền vững hoặc các tổ chức tương tự đã được thành lập tại hơn 100 quốc gia Trong quá trình tiến tới xây dựng một hệ giải pháp an ninh sinh thái toàn cầu, cộng đồng quốc tế đã đạt được một số hiệp định, công ước quốc tế về môi trường. Công ước Viên về bảo vệ tầng ozon và Nghị định thư Montreal về Các chất làm suy giảm tầng Ôzôn - các chính phủ đã đồng ý loại bỏ các hoá chất huỷ hoại tầng ôzôn bình lưu, vốn có ý nghĩa thiết yếu trong việc bảo vệ con người, các loài thực vật và động vật khỏi các ảnh hưởng có hại của tia cực tím; Công ước khung LHQ về thay đổi khí hậu (FCCC) - cơ sở pháp lý để cộng đồng quốc tế cùng nhau chống lại quá trình nóng lên toàn cầu và Nghị định thư Kyoto- một nghị định quốc tế duy nhất giải quyết vấn đề nóng lên toàn cầu; Công ước về Đa dạng sinh học - đánh dấu bước chuyển sang quan điểm tích cực hơn vừa cố gắng đáp ứng nhu cầu của con người về nguồn tài nguyên sinh học, vừa đảm bảo tính lâu bền dài hạn của nguồn vốn sinh vật trên trái đất; Hiệp định Lusaka dẫn đến thành lập một lực lượng đặc nhiệm quốc tế nhằm chống lại nạn buôn bán trái phép sinh vật hoang dã Châu Phi đã được 7 nước Đông Phi và Nam Phi ký kết; Công ước về buôn bán quốc tế các giống loài động thực vật có nguy cơ tuyệt chủng (CITES); Công ước Basel về kiểm soát việc vận chuyển qua biên giới chất thải độc hại và việc loại bỏ chúng cũng đã được ký kết. (Nguồn: Cục Môi trường. Chương trình vì sự thay đổi) Mười Công ước chính của Liên Hiệp quốc trong lĩnh vực môi trường + Bảo vệ Di sản Văn hoá và Thiên nhiên thế giới - 1927. + Các vùng đất ướt có tầm quan trọng quốc tế, Ramsar - 1971. + Buôn bán các loài hoang dã đang bị đe doạ tuyệt chủng, Oasinhton - 1973. + Bảo vệ các loài động vật di cư, Bon - 1979. + Luật biển, Montego Bay - 1982. + Bảo vệ tầng ozon, Viên - 1985, và Nghị định thư về các chất phá huỷ tầng ozon, Montrean - 1987. + Vận chuyển các chất thải nguy hiểm qua biên giới, Basel - 1989. + Thay đổi khí hậu, New York - 1992. + Đa dạng sinh học, Nairobi - 1992. + Chống sa mạc hoá, Pari - 1994 Nguồn:UNEP 2000. Tr 199.
  19. 19. 19 Thời gian qua, cộng đồng quốc tễ đã đạt được những kết quả đáng khích lệ trong việc thiết lập an ninh môi trường toàn cầu, nhưng nhìn toàn cục vấn đề này vẫn chưa được quan tâm đúng mức. Nguyên nhân sâu sa của vấn đề này, một mặt do bản thân việc giải quuyết các vấn đề môi trường vốn phức tạp, tốn kém và đòi hỏi thời gian; mặt khác còn do nhiều nước không giữ đúng lời hứa cam kết tại Hội nghị Rio 92. Hội nghị Thượng đỉnh New York đã chỉ ra những bất đồng giữa các nước phát triển và đang phát triển trong việc thiết lập an ninh sinh thái toàn cầu. Các nước đang phát triển chỉ trích các nước phát triển sử dụng tài nguyên, phát thải nhiều khí gây "hiệu ứng nhà kính", nhưng lại không tôn trọng cam kết Rio về đóng góp 0,7% GNP/năm cho viện trợ ODA. Giữa Mỹ và Liên minh Châu Âu đã nảy sinh nhiều bất đồng: Pháp lên án Mỹ là nước "gây ô nhiễm lớn". Nguồn: Nguyễn Hoàng Giáp, Thái Văn Long. An ninh sinh thái Tạp chí Hoạt động Khoa học 9/1998. Các thách thức về môi trường ngày càng gia tăng, việc giải quyết càng chậm càng tốn kém, suy thoái càng nhanh. Trước thực trạng đó, các nước đang phát triển đã thống nhất đấu tranh mạnh buộc các nước phát triển phải khẳng định các cam kết Rio 92, đây là một trong những giải pháp hiệu quả nhất hiện nay mang tính toàn cầu để thiết lập an ninh môi trường toàn cầu. Bức thông điệp mà Hội nghị Thượng đỉnh New York đưa ra với lời kêu gọi nhân loại vì một nền an ninh môi trường toàn cầu, hãy hành động nhiều hơn. Mỗi cá nhân, mỗi tổ chức, mỗi quốc gia và cả cộng đồng quốc tế phải nâng cao hơn nữa trách nhiệm và có những nỗ lực mới vượt bậc để bảo vệ một cách có hiệu quả môi trường toàn cầu - chiếc nôi nuôi dưỡng sự sống con người. Chương trình Nghị sự 21 - một kế hoạch hành động toàn cầu nhằm mục tiêu cho phát triển bền vững. Tuy nhiên, các kế hoạch chỉ thể hiện được hiệu quả khi được thực thi. Do vậy, 10 năm sau Hội nghị Thượng đỉnh Rio, Hội nghị Thượng đỉnh Johannesburg mang đến cơ hội cho các nhà lãnh đạo đương thời phê chuẩn các bước hành động và các mục tiêu cụ thể để thực thi tốt hơn Chương trình Nghị sự 21. Hội nghị Thượng đỉnh tạo ra cơ hội để củng cố cam kết của cộng đồng thế giới nhằm đạt được sự phát triển bền vững. Tại Hội nghị này đã phê chuẩn các thoả thuận như Nghị định thư Kyoto (mặc dù Mỹ vẫn không tham gia), Nghị định thư về Đa dạng sinh học và đạt được các thoả thuận khung khác như Thoả thuận về các chất hữu cơ bền vững. Và để thúc đẩy thực hiện, Hội nghị tăng cường các quỹ dành cho phát triển bền vững và đưa ra các sáng kiến tạo lập các quỹ mới. Các vấn đề này bao gồm viện trợ bổ sung, giảm nợ và tăng nguồn đầu tư trực tiếp. ASEAN và an ninh môi trường ASEAN là một khu vực có mật độ dân số cao và gồm có nhiều quốc gia liền kề nhau nên tất cả các nước trong khu vực ít hay nhiều đều bị chịu ảnh hưởng của những vấn đề môi trường xuyên biên giới. Phần lớn các nước trong khu vực vẫn đang ở giai đoạn công nghiệp hoá nhanh, các vấn đề môi trường dường như không phải là vấn đề cấp bách trong các cân nhắc về chính sách. Tuy nhiên, nhiều vấn đề rắc rối liên quan tới cháy
  20. 20. 20 rừng ở Indonexia đã khiến nhiều nước ASEAN phải xem xét lại các vấn đề an ninh và chính trị quan trọng trong khu vực. - Các nguy cơ đe doạ tới an ninh môi trường trong khu vực ASEAN cũng như nhiều khu vực khác trên thế giới cũng phải chịu các ảnh hưởng của các vấn đề an ninh môi trường toàn cầu, tuy mức độ có thể khác nhau. Hơn nữa, không phải tất cả các vấn đề môi trường đều tạo ra các đe doạ tới an ninh. Do vậy, phần trình bày dưới đây chỉ đề cập tới một vài vấn đề môi trường chủ yếu trong khu vực có nguy cơ đe doạ tới an ninh. Phá rừng Nhìn chung, việc phá rừng làm tăng khả năng xảy ra và tính khắc nghiệt của các thảm hoạ thiên nhiên cũng như tạo ra các khó khăn trong việc tiếp cận với nước và lương thực. Nếu thiên tai và các vấn đề trên xảy ra ở nhiều nước, chúng có thể gây ra xung đột giữa các quốc gia với nhau. Một ví dụ về hậu quả của phá rừng tới an ninh khu vực là việc chết ngạt bởi khói từ những vùng cháy rừng rộng lớn ở trong khu vực hồi cuối năm 1997 và đầu năm 1998 ở các đảo Sumatra và Kalimantan của Indonexia. Khói mù đã ảnh hưởng tới ít nhất là 20 triệu người Indonexia và gây ra căng thẳng giữa Jakarta và các nước láng giềng ASEAN. Nguyên nhân là chính phủ Indonexia đã quyết định tăng sản xuất dầu cọ mà đốt rừng là cách đơn giản và nhanh nhất. Một nguyên nhân nữa là do tình trạng hạn hán gây ra bởi hiện tượng El Nino. Lửa cháy lan tràn không thể kiểm soát được và gió thổi đã đưa đám mây ô nhiễm dầy đặc này sang các nước lân cận, gây ra mức độ ô nhiễm không khí cao ở Malaysia và Singapo. Nhà lãnh đạo Malaysia Lim Kit Siang đưa ra lời đề nghị khẩn cấp và Bộ Môi trường Malaysia đã chỉ trích các quan chức Indonexia vì hành động thiếu hiệu quả của họ. Bộ Môi trường Singapore cũng bày tỏ sự bất bình với các biện pháp kiểm soát không hiệu quả của Indonexia. Cháy rừng có thể trở lại ở Indonexia, trừ phi Indonexia thay đổi cách thức làm việc của mình, và kết quả là khói mù sẽ có thể tiếp tục tạo ra những căng thẳng về chính trị giữa Indonexia và các nước láng giềng. Ghi chú thêm rằng, cháy rừng là một nguyên nhân chủ yếu gây ra xói mòn đất, mất đất nông nghiệp và chất lượng nước suy giảm, tạo ra các thiên tai và các vấn đề về tiếp cận tài nguyên. Gần 50% diện tích che phủ rừng ở các nước ASEAN đã bị phá huỷ, và tỷ lệ phá rừng ở ASEAN là cao nhất thế giới, xung đột có thể xảy ra giữa các nước, và cách thức tiếp cận với lương thực và nước cần phải được kiểm soát một cách tích cực hơn. Ô nhiễm biển và không khí Một trong những vấn đề môi trường mà nền công nghiệp hoá nhanh chóng gây ra là ô nhiễm không khí, làm gia tăng hàm lượng SO2, NOx, và CO2 trong khí quyển. Hiện nay, mức phát thải khí đang tăng nhanh ở Thái Lan, Malaysia, và Indonesia. Tuy nhiên, do gió tây thịnh hành và mức độ kiểm soát ô nhiễm khác nhau ở các nước ASEAN, nên một số nước phía đông có thể bị ảnh hưởng. Ô nhiễm xuyên biên giới tạo ra một vấn đề gây nhiều tranh cãi. Vấn đề ô nhiễm biển được phát hiện ở Vịnh Thái Lan, Vịnh Manila và Jakarta, biển Đông, lưu vực sông Mêkông. Trong tương lai, ô nhiễm biển và các vấn đề liên quan đến khai thác và cạnh tranh tài nguyên biển có thể dẫn đến xung đột giữa các nước trong khu vực.
  21. 21. 21 Tài nguyên và năng lượng Đây là trung tâm của các xung đột môi trường trong một nước và giữa các nước. Dân số tăng nhanh là một sức ép tới việc sử dụng năng lượng và tài nguyên trong khu vực. - Các chính sách về ANMT của các nước ASEAN “Khu vực ASEAN phải được xem như là một hệ sinh thái”. Khái niệm này được hình thành từ thủa ban đầu trong Bản tuyên ngôn Manila về Môi trường ASEAN (30/4/1981). Cho tới năm 1994, Hội nghị Bộ trưởng ASEAN không chính thức về môi trường tại Kingchinh và tới Chương trình môi trường tiểu khu vực ASEP I, 1998 thì ASEAN vẫn phải được quản lý và bảo vệ như một hệ sinh thái. Đây có thể được coi là một trong những quan điểm chỉ đạo của ASEAN trong lĩnh vực bảo vệ an ninh môi trường khu vực. Một số hiệp ước của ASEAN  Thoả hiệp Jakarta về Rừng nhiệt đới - được thảo luận tại Hội nghị Bộ trưởng kinh tế ASEAN lần thứ 3 về Nông nghiệp và Lâm nghiệp (Jarkata, 8/1981), một chính sách lâm nghiệp chung cho ASEAN đã được thông qua.  Hiệp định ASEAN về Bảo tồn thiên nhiên và các tài nguyên thiên nhiên, 1985. Mục tiêu của Hiệp định là bảo tồn nguồn động vật và thực vật hoang dã, cũng như kêu gọi các bên tham gia triển khai “các chiến dịch quốc gia” có phối hợp trong khuôn khổ “chiến dịch bảo tồn khu vực”.  (Dự thảo) Hiệp định khung ASEAN về đánh giá các nguồn gen, 1999 - là nỗ lực của các nước ASEAN có hệ sinh thái và tài nguyên gen chung để hài hoà việc bảo tồn và sử dụng bền vững các nguồn gen. Khung này cũng dẫn tới kiểm toán tất cả các nguồn tài nguyên khu vực ASEAN, là một bước quan trọng trong quản lý hệ sinh thái.  Bản tuyên ngôn ASEAN về Khu Di sản và Bảo tồn, 1984 - tạo điều kiện thuận lợi cho các nước ASEAN cùng quản lý để bảo tồn và duy trì các hệ thống hỗ trợ sự sống, đảm bảo sử dụng bền vững, giáo dục, tái tạo và giá trị du lịch.  Hiệp định ASEAN về Ô nhiễm khói mù xuyên biên giới, 2001 - nhằm ngăn ngừa cháy rừng và gây ra khói mù, như đã xảy ra ở Đông Nam á vào các năm 1997 - 1998. Chương trình phát triển và kế hoạch hành động về môi trường của ASEAN  Kể từ 1978, sau 11 năm thành lập, ASEAN đã có được một Chương trình Môi trường Tiểu khu vực ASEP (1978 - 1982) - với 6 chương trình ưu tiên, một trong số ưu tiên đó là Bảo tồn tự nhiên và Hệ sinh thái. Tiếp tục với ASEP II (1983 - 1987) và ASEP III (1988 - 1992) và sau đó được thay thế bởi Kế hoạch Hành động ASEAN (ASPEN) (1992 - 1998)  Kế hoạch tầm nhìn 2020  Kế hoạch hành động Hà Nội
  22. 22. 22  Kế hoạch hành động giáo dục môi trường 2000 - 2005 Gần đây, Chương trình Môi trường Liên Hiệp quốc (UNEP) đã ký thoả thuận với Hiệp hội các nước Đông Nam á (ASEAN) tăng cường hợp tác về vấn đề khói mù xuyên biên giới, vấn đề giáo dục, đánh giá, lập báo cáo và xây dựng luật pháp môi trường. Các vấn đề chính được đề cập tới trong thoả thuận này còn bao gồm cả việc đánh giá rủi ro và quản lý các sinh vật biến đổi gen, khai thác gỗ bất hợp pháp, du lịch sinh thái, chất lượng nước, đánh giá các công nghệ thân môi trường, sản xuất sạch cho các doanh nghiệp quy mô vừa và nhỏ và sự tham gia của cộng đồng. Năm 2001, UNEP đã tạo điều kiện để các nước ASEAN thương lượng ký kết Hiệp định về Ô nhiễm khói mù xuyên biên giới, nhằm ngăn ngừa cháy rừng và gây ra khói mù, như đã xảy ra ở Đông Nam á vào các năm 1997 - 1998. UNEP còn hỗ trợ cho ASEAN xây dựng kế hoạch hành động giáo dục môi trường cộng đồng tại Băng Cốc vào 5/2001. 9/2003, UNEP tài trợ cho các đại biểu của các nước ASEAN tham gia hội thảo ASEAN - UNEP về Công ước các chất hữu cơ khó phân huỷ (POP), cũng như nhấn mạnh tới nhu cầu tăng cường các dự án xây dựng năng lực cho khu vực. Nguồn: UNEP. Hợp tác giữa UNEP và ASEAN, 11/2002 Một số công ước về trách nhiệm dân sự đã có hiệu lực ở ASEAN Hiện nay, hầu hết các hiệp ước môi trường quốc tế đều chú trọng đến việc ngăn ngừa. Tuy nhiên, cũng có nhiều công ước về trách nhiệm dân sự đã có hiệu lực, đặc biệt là các công ước có liên quan đến hạt nhân và tàu thuyền. Các nước thành viên ASEAN đã ký kết và thông qua các hiệp ước sau: + Sử dụng năng lượng hạt nhân Công ước Paris năm 1960 về trách nhiệm của bên thứ ba trong lĩnh vực năng lượng hạt nhân; Công ước Viena năm 1963 về trách nhiệm dân sự đối với các thiệt hại về hạt nhân. + Hoạt động của các tàu hạt nhân Công ước năm 1962 về trách nhiệm pháp lý của các tàu hạt nhân + Chuyên chở vật liệu hạt nhân trên tàu thuyền Công ước năm 1971 liên quan đến trách nhiệm hình sự trong lĩnh vực chuyên chở các vật liệu hạt nhân trên thuyền + Ô nhiễm dầu Công ước quốc tế năm 1969 về trách nhiệm hình sự đối với thiệt hại gây bởi ô nhiễm dầu (và nghị định thư sửa đổi năm 1992); Công ước quốc tế năm 1971 về việc xây quỹ quốc tế đền bù thiệt hại gây bởi ô nhiễm dầu (và nghị định thư sửa đổi năm 1992). + Chuyên chở các hàng hoá nguy hiểm bằng đường bộ, đường sắt và đường thuỷ trong đất liền
  23. 23. 23 Công ước quốc tế năm 1989 về trách nhiệm dân sự với thiệt hại gây bởi các phương tiện đang chuyên chở các loại hàng hoá nguy hiểm bằng đường bộ, đường sắt và đường thủy trong đất liện (thường gọi là CRTD). 2.5 An ninh Môi trường và khủng bố sinh thái Vũ khí sinh thái gồm hóa chất, thời tiết, vi khuẩn, virus, côn trùng hay sinh vật biến đổi gen,… ngày nay không chỉ đang được dùng như một vũ khí tiêu diệt hay gây bệnh tật cho con người trong các cuộc chiến tranh không tuyên bố, hoạt động khủng bố, mà có thể được sử dụng để làm suy yếu nền nông nghiệp hay du lịch của một đối thủ cạnh tranh.Với trình độ công nghệ cao của loại vũ khí này, những quốc gia đang phát triển khó bề quản trị nổi.  Vũ khí thời tiết Vũ khí thời tiết cũng đã được sử dụng khá sớm trong lịch sử chiến tranh. Trong cuộc chiến tranh với nhà Nguyễn Tây Sơn, Nguyễn Ánh đã biết lợi dụng gió mùa, cho chiến thuyền tiến đánh các tỉnh miền Trung và đã gây cho nhà Tây Sơn không ít thất bại. Vào những năm 1969-1970, CIA đã áp dụng một số biện pháp tác động lên điều kiện thời tiết để phá hoại các vụ mía - loại nông sản chủ đạo của Cuba. Các máy bay Mỹ đã lượn trên vùng trời Cuba, tạo mưa lũ trên những vùng không trồng mía, để rồi những vùng trồng mía trở nên khô hạn. Một báo cáo của CIA được tờ Tạp chí thứ bảy (Saturday Review) tiết lộ cho thấy một số quốc gia đứng đầu là Mỹ đã có khả năng điều khiển thời tiết dùng cho mục đích quân sự. Mỹ đã từng gây mưa lũ trên một số vùng tại Bắc Việt Nam, Lào và Campuchia để làm hỏng tuyến đường vận chuyển của miền Bắc vào chiến trường miền Nam. Trong thập kỷ 1985-1995, NATO đã thử nghiệm vũ khí thời tiết để gây hạn hán tại Tây Ban Nha, gây khó khăn cho nước này ngay khi Tây Ban Nha tuyên bố gia nhập EU. Ngày 21-08-1969, Mỹ cho máy bay thả hoá chất để xua tan cơn dông trên vùng trời biển Caribê và chuyển cơn dông sang lãnh thổ Panama, Nicaragoa và Honduras. Người ta phát hiện các hoá chất được sử dụng là iốt bạc, iốt chì và băng khô (CO2 đóng băng). Rõ ràng với việc sử dụng thời tiết vào mục tiêu chiến tranh, các siêu cường quân sự trên thế giới đã can thiệp thô bạo vào môi trường sống của con người..  Vũ khí gen Vũ khí gen là đỉnh cao của vũ khí sinh học, còn có tên là vũ khí di truyền hay vũ khí ADN. Nguyên lí của vũ khí gen là áp dụng công nghệ di truyền, cấp ghép gen vào một sinh vật lành, biến sinh vật đó thành sinh vật gây hại. Sinh vật gây hại có thể là một loại côn trùng, một loại vi khuẩn độc có khả năng kháng thuốc. Năm 1987, Mỹ đã chi đến 1,5 tỷ USD để chế tạo vũ khí sinh thái trong đó có vũ khí gen. Họ đã thành công trong việc tăng độc tố của vi khuẩn than, vi khuẩn viêm gan A, trực khuẩn tả, lị...Nước Nga cũng đang đẩy mạnh nghiên cứu về vũ khí gen. Họ đã tạo ra vũ khí gen gây tiêu chảy và chảy nước mắt liên tục, các thí nghiệm về sử dụng gen gây viêm cơ cũng đang được tiến hành, theo tính toán chỉ cần 20g chất gây viêm cơ cũng đủ tiêu diệt toàn bộ loài người. Gen là loại vũ khí công nghệ cao, khó phát hiện và giải mã, dễ sử dụng, lại có thể chỉ nhằm vào
  24. 24. 24 một nhóm người, một nhóm sinh vật có cơ cấu di truyền nhất định. Các nhà khoa học đã nhận xét rằng trong 10 năm tới, vũ khí gen có thể sẽ được sản xuất hàng loạt và "mạnh hơn cả bom nguyên tử".  Vũ khí vi trùng (gọi chung vi khuẩn, nấm, virus, tế bào...) Đặc điểm của vũ khí vi trùng là: (i) Bùng phát thành dịch sau khi rải vi trùng 2-3 tuần, do đó người rải có thể an toàn trở về căn cứ; (ii) Không phân biệt đối tượng tấn công, reo rắc khiếp sợ, tấn công tinh thần toàn thể xã hội;(iii) Vi trùng, virus, nấm, tế bào... là các tác nhân của vũ khí vi trùng không thể nhìn thấy bằng mắt thường, nên rất dễ che dấu khi vận chuyển. Theo nghiên cứu của văn phòng đánh giá công nghệ Mỹ (OTA - 1993) 100kg bụi bệnh than rải từ máy bay có thể giết chết 1-3 triệu người; (iv)Khuôn khổ pháp lý mong manh. Năm 1972, Công ước Cấm sản xuất và tàng trữ vũ khí vi trùng (kể cả chất độc) được soạn thảo và đến nay (2001) đã có 141 nước thông qua. Tuy nhiên, tài liệu cho thấy một số nước tuy đã ký kết nhưng vẫn tiếp tục sản xuất. Năm 1972 vụ nổ nhà máy chế tạo vũ khí sinh học của Nga ở Sverdlovsk đã làm bùng phát một trận dịch bệnh than. Rất khó có công cụ hoàn hảo cho phép kiểm soát và thanh tra vũ khí vi trùng, bởi lẽ các tác nhân sinh học được dùng làm vũ khí lại cũng rất có ích trong những ứng dụng y học vì con người. Chính vì thế vào mùa hè 2001, Hiệp định Kiểm soát vũ khí sinh học vừa được soạn thảo đã bị Mỹ phản đối vì sợ làm cản trở công việc kinh doanh của các nhà công nghiệp Mỹ. Chính phủ Mỹ suốt 30 năm đã dùng vũ khí vi trùng để chống phá cách mạng Cuba. Tháng 3/1970, Mỹ đã bí mật đưa sang Cuba một hòm chứa virus gây sốt lợn có nguồn gốc từ Châu Phi, bằng phương tiện tàu đánh cá. 6 tuần sau, bùng nổ đại dịch gia súc ở Cuba, buộc Cuba phải giết trên 500 ngàn con lợn. Bệnh sốt lợn tái xuất ở Cuba vào năm 1980, lần này còn lây sang người và gây tử vong. Cùng thời gian này, ở Cuba bùng phát dịch đau mắt đỏ làm cho 156 người bị tử vong. Cho đến cuộc khủng bố bằng vi khuẩn than xảy ra ở Mỹ sau ngày 11-09-2001, có thể nói việc kiểm soát vũ khí vi trùng trên thế giới hiện nay là rất yếu kém.  Đã xuất hiện loại vũ khí này ở Việt Nam chưa? Sau khi chiến tranh kết thúc vào năm 1975 đến nay, chưa có tuyên bố hay nghiên cứu nào kết luận rằng một số loại hình vũ khí sinh thái đã được sử dụng ở nước ta. Tuy nhiên phân tích một số sự kiện gần đây cho phép suy nghĩ về khả năng không loại trừ một vài dạng vũ khí sinh thái có thể đã được sử dụng: (i) Sự lan tràn không kiểm soát được loài bọ dừa Brontispa sp. ở Việt Nam mà giới khoa học kể cả chuyên gia Nhật không thể xác định tên loài của loài cánh cứng ăn chất diệp lục gây hại cho dừa Việt nam đi theo cây cau cảnh để xâm nhập từ một nước khác vào; (ii) Bệnh tiêu chảy cấp có phảy khuẩn tả mới bùng phát vài năm trở lại là do một chủng phảy khuẩn tả mới mà theo kết luận của Tổ chức Y tế Thế giới WHO thì đó là chủng lai chéo giữa chủng classica có tốc độ lan truyền nhanh ở Việt nam và chủng eltor gây nguy hiểm chết người vốn đang tồn tại ở một nước khác;
  25. 25. 25 (iii)Theo kết luận của Cục Thú Y Trung ương, dịch heo tai xanh còn chưa thể khống chế ở nước ta do một loài virus có nguồn gốc tử một nước khác lan sang. Loài này tồn tại ở nước đó đã rất nhiều năm nhưng không thể lan sang nước ta như thời gian qua. (iv)Năm 2008, chỉ một loài cá đối với kích thước khá đồng nhất: chiều ngang thân cỡ 2 cm-chết trắng vịnh Đà Nẵng.Việc duy nhất cá đối cùng một kích cỡ chết hàng loạt không thể quy kết do môi trường ô nhiễm hay do chúng ăn phải thức ăn độc. Cho dù những ví dụ trên có là vũ khí sinh thái hay không thì chúng cũng đang làm suy giảm đáng kể tốc độ tăng trưởng kinh tế và khả năng cạnh tranh của Việt nam.  ANMT đang bị thách thức Vụ khủng bố ngày 11/9/2001 cùng với các vụ sử dụng vi khuẩn than sau đó đã thu hút mạnh sự chú ý của công luận đến vấn đề an ninh. Nguy cơ các nhóm khủng bố sử dụng các vũ khí hóa học, sinh học và hạt nhân bây giờ đã không còn là điều khó xảy ra. Sau vụ 11/9, số lượng các nghiên cứu và công bố khoa học về ANMT tăng vọt trên toàn cầu. Dự án Thiên niên kỷ của Hội đồng Châu Mỹ của LHQ xác định: “ ANMT là việc đảm bảo an toàn trước các mối nguy hiểm môi trường sinh ra do sự yếu kém trong quản lý hoặc thiết kế và có nguyên nhân trong nước hay xuyên quốc gia” (Michael J. Penders and William L. Thomas, NR&E Winter 2002). Trong bối cảnh hội nhập toàn cầu, việc ngăn ngừa vũ khí sinh thái đòi hỏi phải có cơ chế phối hợp toàn cầu trong chia sẻ thông tin giữa các tổ chức chế tài luật pháp, hải quan, cơ quan quản lý môi trường, tổ chức thương mại và cả các nguồn tin tình báo. Các nước cần tăng cường khả năng chia sẻ và phân tích các số liệu xuyên biên giới, sử dụng các công nghệ thông tin mới để phát hiện việc vận chuyển các vật liệu nói trên và nguy cơ chúng sẽ bị sử dụng cho khủng bố hay tội phạm môi trường. Các quy định pháp luật về môi trường cũng cần được hoàn thiện hơn bằng việc đưa vào đó những điều khoản về đảm bảo ANMT. Đặc biệt quy định về đảm bảo ANMT phải được quán triệt trong lĩnh vực khoa học công nghệ, công nghiệp và cơ sở hạ tầng. Thiếu những tiến bộ công nghệ trong lĩnh vực an ninh, nhiều doanh nghiệp sẽ không thể đối đầu với các đe dọa từ vũ khí hóa học hay sinh học. Để đảm bảo an ninh tránh khỏi các mối đe dọa ở trong nước hay tại nước ngoài cần phải tạo ra những sáng kiến mới về quản lý môi trường nhằm đảm bảo an ninh và phát triển bền vững. Kết luận 1. Các nguyên nhân của xung đột và mất an ninh là những vấn đề tổng hợp, đa nhân tố và kết hợp chặt chẽ. Do đó tuỳ trường hợp mà suy thoái môi trường và suy giảm tài nguyên chỉ là những nhân tố phụ, hay là những nguyên nhân chủ yếu của xung đột và mất an ninh. Môi trường có thể đóng vai trò như một nguyên nhân trực tiếp của xung đột. Tuy nhiên, tính khó xác định của môi trường có thể đóng góp cho xung đột thông qua các tác động tiêu cực của chúng lên các nhân tố khác vốn là nguyên nhân trực tiếp của các

×